Miễn dịch và suy giảm miễn dịch
Hệ miễn dịch có vai trò bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh. Khi hệ miễn dịch suy yếu hoặc hoạt động quá mức cần thiết cũng gây ra các bệnh khác nhau cho cơ thể. Cùng tìm hiểu các bệnh lý miễn dịch.

1. Vai trò của hệ miễn dịch
Hệ miễn dịch đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh. Ngoài ra, hệ miễn dịch cũng đóng vai trò chính trong quá trình thải ghép ở những bệnh nhân thực hiện phẫu thuật cấy ghép thay thế các mô hoặc cơ quan nội tạng. Hệ miễn dịch bảo vệ cơ thể thông qua các phản ứng miễn dịch.
Khi hệ miễn dịch của cơ thể suy giảm chức năng (do tuổi tác hoặc do bệnh lý), các tác nhân gây bệnh như: vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm và độc tố có thể tấn công cơ thể, từ đó dẫn đến một số căn bệnh. Các bệnh lý thường gặp khi cơ thể suy giảm miễn dịch gồm suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặc suy giảm miễn dịch mắc phải hoặc kết hợp bẩm sinh và mắc phải.
Hoạt động của hệ miễn dịch cũng có thể bị rối loạn hoặc hoạt động quá mức cần thiết dẫn đến một số bệnh như: dị ứng và quá mẫn cảm với một số chất (nội sinh hoặc ngoại sinh).
2. Bệnh lý suy giảm miễn dịch thường gặp
2.1. Hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh (nguyên phát, tiên phát)
2.1.1. Khái niệm
Hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinhlà một nhóm nhiều rối loạn xuất hiện khi một số thành phần của hệ miễn dịch (chủ yếu là các tế bào và protein) hoạt động không bình thường. Ước tính cứ khoảng 2.000 người thì có 1 người được chẩn đoán hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh, tuy nhiên một số thể hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh ít gặp hơn nhiều so với một số thể khác.
Một số thể tương đối nhẹ, trong khi một số thể khác lại nghiêm trọng. Bệnh thường được phát hiện trong thời thơ ấu, tuy nhiên cũng có thể được chẩn đoán khi đã trưởng thành. Điều trị suy giảm miễn dịch bẩm sinh tùy thuộc vào việc thành phần nào của hệ miễn dịch bị ảnh hưởng.
Hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh là do các khiếm khuyết di truyền hay khiếm khuyết gen của hệ miễn dịch gây ra. Hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh không lây lan – không thể ‘nhiễm’ hoặc truyền bệnh này cho người khác. Tuy nhiên, trẻ có thể thừa hưởng suy giảm miễn dịch tiên phát từ bố mẹ. Vì vậy người bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh nên tìm kiếm lời khuyên di truyền về tình trạng bệnh của mình nếu muốn có con.
Bình thường hệ miễn dịch giúp cơ thể chống lại nhiễm khuẩn do các vi sinh vật như vi khuẩn, vi-rút, nấm và động vật đơn bào gây ra. Do hệ miễn dịch không hoạt động một cách phù hợp, người mắc hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh dễ bị nhiễm trùng hơn những người khác. Các nhiễm trùng này có thể xảy ra thường xuyên hơn, chúng có thể đặc biệt nghiêm trọng hoặc khó điều trị khỏi, hoặc có thể do các vi khuẩn hiếm gặp gây nên. Bệnh có thể xảy ra vào bất kỳ mùa nào, kể cả vào mùa hè.
2.1.2. Các bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh thường gặp
– Thiếu gamma globulin máu liên kết nhiễm sắc thể X (XLA).
– Thiếu hụt miễn dịch kết hợp nghiêm trọng (SCID). Một tình trạng di truyền gây suy yếu nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực của hệ thống miễn dịch. Em bé bị SCID chết vì nhiễm trùng quá mức, thường là trước khi đến một tuổi. Ghép tủy xương có thể chữa một số trường hợp mắc SCID.
– Suy giảm miễn dịch thường gặp (CVID). Do một khiếm khuyết di truyền, hệ thống miễn dịch tạo ra quá ít kháng thể để chống lại nhiễm trùng một cách hiệu quả. Trẻ em bị CVID thường bị nhiễm trùng tai, phổi, mũi, mắt và các cơ quan khác. Điều trị bao gồm thay thế các kháng thể bị thiếu bằng cách tiêm kháng thể thường xuyên, được gọi là immunoglobulin.

2.2. Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (thứ phát)
2.2.1. Khái niệm
Rối loạn suy giảm miễn dịch mắc phải xảy ra khi một nguồn bên ngoài như hóa chất độc hại hoặc nhiễm trùng tấn công cơ thể. Những điều sau đây có thể gây ra rối loạn suy giảm miễn dịch mắc phải:
- Vết bỏng nặng;
- Hóa trị;
- Sự bức xạ;
- Bệnh tiểu đường;
- Suy dinh dưỡng.
2.2.2. Các bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải
a. AIDS: HIV lây nhiễm và phá hủy các tế bào hệ thống miễn dịch thường chống lại nhiễm trùng. Khi số lượng tế bào hệ thống miễn dịch giảm, khả năng bị nhiễm trùng của một người sẽ tăng lên.

b. Ung thư hệ thống miễn dịch, như bệnh bạch cầu;
c. Bệnh miễn dịch phức tạp, như viêm gan virus;
d. Đa u tủy (ung thư tế bào plasma).
3. Nguy cơ bị rối loạn suy giảm miễn dịch
– Những người có tiền sử gia đình bị rối loạn suy giảm miễn dịch bẩm sinh có nguy cơ mắc các rối loạn tiên phát cao hơn bình thường.
– Bất cứ điều gì làm suy yếu hệ thống miễn dịch có thể dẫn đến rối loạn suy giảm miễn dịch bẩm sinh. Ví dụ, tiếp xúc với chất dịch cơ thể bị nhiễm HIV hoặc loại bỏ lách có thể là nguyên nhân. Cắt bỏ lách có thể là cần thiết vì các tình trạng như xơ gan, thiếu máu hồng cầu hình liềm hoặc chấn thương lách.
– Lão hóa cũng làm suy yếu hệ thống miễn dịch. Khi tuổi cao, một số cơ quan sản xuất tế bào bạch cầu cũng sẽ giảm sản xuất.
– Protein rất quan trọng đối với khả năng miễn dịch của cơ thể. Khi không đủ protein trong chế độ ăn uống cũng có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể.
– Cơ thể cũng tạo ra protein khi ngủ đủ giấc, giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Vì lý do này, thiếu ngủ làm giảm khả năng phòng vệ miễn dịch. Ung thư và thuốc hóa trị cũng có thể làm giảm khả năng miễn dịch.
4. Biểu hiện của suy giảm miễn dịch
Mỗi rối loạn có các triệu chứng đặc trưng có thể là thường xuyên hoặc mạn tính. Một số triệu chứng có thể bao gồm:
- Mắt đỏ;
- Viêm xoang;
- Cảm lạnh;
- Tiêu chảy;
- Viêm phổi;
- Nhiễm trùng nấm men.
Nếu những vấn đề này không có phản ứng với điều trị hoặc cơ thể không hoàn toàn khỏe hơn theo thời gian, bác sĩ có thể nghi ngờ mắc hội chứng suy giảm miễn dịch.
5. Chẩn đoán suy giảm miễn dịch
Nếu bác sĩ nghi ngờ cơ thể có thể bị rối loạn suy giảm miễn dịch, họ sẽ thực hiện một số thăm khám sau:
- Hỏi về tiền sử gia đình;
- Thực hiện kiểm tra thể chất;
- Xác định số lượng bạch cầu;
- Xác định số lượng tế bào lympho T (T-CD3, T-CD4, T-CD8);
- Xác định nồng độ immunoglobulin;
Vắc-xin có thể kiểm tra phản ứng của hệ thống miễn dịch của cơ thể trong kỹ thuật gọi là xét nghiệm kháng thể. Bác sĩ sẽ cung cấp cho cơ thể một loại vắc-xin. Sau đó, họ sẽ kiểm tra máu để biết phản ứng của cơ thẻ với vắc-xin một vài ngày hoặc vài tuần sau đó. Nếu cơ thể không có rối loạn suy giảm miễn dịch, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ tạo ra các kháng thể để chống lại các sinh vật trong vắc-xin.
6. Điều trị suy giảm miễn dịch
Việc điều trị cho từng rối loạn suy giảm miễn dịch sẽ phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể. Ví dụ, AIDS gây ra một số bệnh nhiễm trùng khác nhau. Bác sĩ sẽ kê toa thuốc cho từng bệnh nhiễm trùng. Và người bệnh có thể được cho dùng thuốc kháng vi-rút để điều trị HIV.
Điều trị rối loạn suy giảm miễn dịch thường bao gồm kháng sinh và liệu pháp immunoglobulin. Các loại thuốc chống vi rút khác, amantadine và acyclovir, hoặc một loại thuốc gọi là interferon được sử dụng để điều trị các bệnh nhiễm trùng do virus gây ra bởi rối loạn suy giảm miễn dịch.
Nếu tủy xương không sản xuất đủ tế bào lympho, bác sĩ có thể yêu cầu ghép tủy xương (ghép tế bào gốc tạo máu).
7. Phòng rối loạn, suy giảm miễn dịch
Rối loạn suy giảm miễn dịch nguyên phát có thể được kiểm soát và điều trị, nhưng chúng không thể được ngăn chặn.
Rối loạn suy giảm miễn dịch thứ phát có thể được ngăn ngừa theo một số cách. Ví dụ, có thể ngăn chặn bản thân khỏi bị AIDS bằng cách tránh tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể và dịch sinh dục của người mắc AIDS. Khi phải tiếp xúc với máu, dịch tiết hoặc dịch sinh dục, cần áp dụng các biện pháp dự phòng như sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, sử dụng vật ngăn cách như kính bảo hộ, găng tay, áo choàng khi chăm sóc, ngâm tất cả các đồ dùng có dính máu, dịch cơ thể trong dung dịch nước sát trùng trước khi xử lý là các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV có hiệu quả.
Nếu mắchội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải như AIDS, cần giữ cho người khác khỏe mạnh bằng cách thực hiện tình dục an toàn và không để dịch cơ thể tiếp xúc với những người không bị nhiễm virus.
Giấc ngủ rất quan trọng đối với một hệ thống miễn dịch khỏe mạnh. Theo Mayo Clinic, người lớn cần khoảng tám giờ ngủ mỗi đêm. Điều quan trọng nữa là nên tránh xa những người bị bệnh nếu hệ thống miễn dịch của cơ thể không hoạt động tốt.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.213.968
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















