BỆNH VÔI HOÁ TÚI MẬT
Vôi hoá túi mật là một hiện tượng bệnh lý đặc biệt, thành của túi mật từ mềm mại trở nên cứng, giòn và chuyển mầu xanh. Khi đó làm thay đổi cấu trúc và chức năng túi mật, ảnh hưởng đến sự co bóp và lưu thông mật, dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng của sức khoẻ.
Nội dung
1. Khái niệm về vôi hoá túi mật
Vôi hoá túi mật (còn được gọi là túi mật sứ) là tình trạng thành của túi mật bị vôi hóa, trở nên cứng, giòn và có màu ngả xanh. Vôi hoá túi mật thường không gây ra triệu chứng khi mới phát bệnh, thường chỉ được phát hiện tình cờ qua chẩn đoán hình ảnh như trong quá trình chụp X-quang bụng hoặc chụp CT bụng.
Bệnh thường gặp ở phụ nữ, trong khoảng từ 38 – 70 tuổi. Ban đầu, thành túi mật chỉ xuất hiện một mảng vôi hóa, dính vào lớp niêm mạc. Sau đó, tình trạng vôi hóa sẽ thay thế toàn bộ mô thành túi mật bằng canxi.
Có khoảng 90% các trường hợp vôi hoá túi mật liên quan tới sỏi mật. Sỏi mật có kích thước đa dạng, nhỏ có thể như một hạt cát và lớn có thể to như quả bóng bàn, được hình thành trong túi mật hoặc ống mật, làm cản trở dòng chảy bình thường của dịch mật từ đó gây tắc mật.
Tắc mật diễn ra lâu ngày gây nhiễm trùng tại chỗ và lây nhiễm cho toàn bộ túi mật, cuối cùng dẫn tới tình trạng viêm túi mật mạn tính. Theo thời gian, các đợt nhiễm trùng và viêm diễn ra; thành và niêm mạc túi mật dày lên, cứng lại; thành túi mật trở nên chắc, giòn và có màu phớt xanh do bị vôi hóa.
Thành túi mật khi bị vôi hóa có thể dày lên không đều. Trong trường hợp thành túi mật ngấm toàn bộ canxi, niêm mạc túi mật thường bị bong tróc và có thể bong tróc hoàn toàn. Trong trường hợp thâm nhiễm canxi từng mảng, niêm mạc có thể biểu hiện tình trạng viêm. Điều này làm tăng nguy cơ tiến triển thành ung thư túi mật với tỷ lệ khoảng 11%. Nguyên nhân hình thành ung thư túi mật chủ yếu do kích ứng viêm mạn tính và viêm niêm mạc túi mật.

2. Nguyên nhân và quá trình hình thành vôi hoá túi mật
Nguyên nhân gây ra tình trạng túi mật sứ vẫn chưa được xác định chính xác, nhưng cơ chế bệnh sinh cho thấy có liên quan đến quá trình hình thành các loại sỏi mật như sau:
– Sỏi cholesterol: Hình thành do dịch mật bị ứ đọng, không được bài tiết hết khỏi túi mật, dẫn đến kết tủa dưới dạng bùn, sau đó chuyển thành sỏi. Ngoài ra, tắc nghẽn đường mật do hẹp thiết diện của ống mật chủ như ung thư tuyến tụy… cũng có thể gây ra tình trạng tương tự.
– Sỏi sắc tố: Nguyên nhân chủ yếu do quá trình phá hủy hồng cầu trong hệ thống nội mạch, làm tăng nồng độ bilirubin, dẫn đến hình thành sỏi. Loại sỏi này thường có màu đen.
– Sỏi sắc tố hỗn hợp: Đây là dạng sỏi mật hình thành từ quá trình kết hợp của các chất nền canxi (canxi cacbonat hoặc canxi photphat), cholesterol và mật.
– Dạng sỏi mật còn lại: Chủ yếu hình thành từ canxi, thường gặp ở người bệnh tăng canxi máu.
Tỷ lệ mắc vôi hoá túi mật rất hiếm, thường chỉ chiếm dưới 1% trong số tất cả các mẫu bệnh phẩm cắt túi mật. Nhóm đối tượng có nguy cơ cao gồm:
– Nữ giới;
– Người trên 60 tuổi;
– Người mắc bệnh sỏi mật (chiếm đến 95% các trường hợp).
Ngoài ra, những người giảm cân quá mức hoặc nhịn ăn để giảm cân đều có nguy cơ cao bị sỏi mật thứ phát do ứ mật. Estrogen cũng đã được chứng minh là làm tăng nồng độ cholesterol trong mật, từ đó làm giảm khả năng co bóp của túi mật. Vì vậy, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản hoặc đang dùng thuốc tránh thai chứa estrogen có nguy cơ hình thành sỏi mật tăng gấp đôi so với nam giới.
Bên cạnh đó, những người mắc các bệnh mạn tính như tiểu đường cũng làm gia tăng hình thành sỏi mật do giảm khả năng co bóp của thành túi mật do bệnh lý thần kinh. Sự hiện diện kéo dài của sỏi mật và các nguyên nhân hình thành sỏi mật rất có thể là yếu tố chính dẫn đến vôi hóa thành túi mật.
3. Các biến chứng của vôi hoá túi mật
Vôi hóa túi mật có thể mang theo nhiều rủi ro và nguy hiểm cho tính mạng của người bệnh. Dưới đây là một số biến chứng mà vôi hóa túi mật có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh:
– Viêm túi mật mạn tính: Vôi hóa túi mật thường đi kèm với tình trạng viêm túi mật mạn tính. Nếu không được kiểm soát và điều trị, viêm túi mật sẽ gây đau đớn, không thoải mái và khiến người bệnh suy giảm chất lượng cuộc sống.
– Nguy cơ ung thư túi mật: Có đến 60% trường hợp vôi hóa túi mật có mối quan hệ với ung thư túi mật. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, ung thư sẽ tiến triển và ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe.
– Nguy cơ nhiễm trùng và sưng túi mật: Vôi hóa túi mật có thể gây tắc nghẽn trong lưu thông chất mật, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Nếu túi mật bị nhiễm trùng, có thể xảy ra đau, sưng và các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác.
– Rủi ro phẫu thuật: Trong một số trường hợp, việc phải thực hiện phẫu thuật cắt bỏ túi mật là không tránh khỏi. Phẫu thuật có thể mang theo những rủi ro liên quan đến tình trạng sức khỏe tổng thể của người bệnh.
– Mất khả năng tự nhiên của túi mật: Vôi hóa túi mật làm mất đi khả năng co bóp và đẩy chất mật của túi mật, làm suy giảm chức năng sinh học tự nhiên của túi mật trong quá trình tiêu hóa chất mật.
Tóm lại, vôi hóa túi mật có thể tạo ra những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và đôi khi đe dọa tính mạng của người bệnh. Việc theo dõi và điều trị kịp thời bệnh này dưới sự giám sát của bác sĩ là quan trọng để giảm thiểu các nguy cơ.
4. Triệu chứng của bệnh vôi hoá túi mật
Hầu hết các trường hợp túi mật sứ đều không gây ra triệu chứng rõ ràng. Một số người bệnh có thể nhận thấy dấu hiệu tương tự như viêm túi mật mạn tính, chẳng hạn như:
– Đau âm ỉ vùng bụng trên bên phải, sau đó lan dần ra giữa lưng hoặc đầu bả vai phải;
– Buồn nôn hoặc nôn mửa;
– Đầy hơi, đặc biệt là buổi tối.
Các triệu chứng thường xảy ra trong nhiều tuần, thậm chí kéo dài nhiều tháng. Tần suất và mức độ cơn đau cấp tính (viêm túi mật cấp) sẽ xảy ra thường xuyên hơn trên những bệnh nhân có triệu chứng viêm mạn tính kéo dài.
5. Chẩn đoán
Đối với tình trạng túi mật sứ, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện các xét nghiệm về chẩn đoán hình ảnh để có chẩn đoán bệnh chính xác:
– Siêu âm bụng: tùy theo mức độ vôi hóa thành túi mật mà có các hình dạng khác nhau trên siêu âm. Túi mật vôi hóa hoàn toàn sẽ có hình ảnh bán nguyệt tăng âm với bóng lưng phía sau, vôi hóa rải rác sẽ xuất hiện những điểm những mảng tăng âm rải rác trên thành túi mật.
– Chụp X-quang thường quy: Trên kết quả chụp X-quang bụng thường quy, túi mật sứ xuất hiện dưới dạng đường cong vôi hóa ở hạ sườn phải, tương ứng với vị trí và hình dạng của túi mật. Độ dày của lớp vôi hóa có thể thay đổi, mỏng, mờ nhạt, vô định hình, loang lổ hoặc dày. Đồng thời, kích thước túi mật cũng có thể lớn hơn nhưng không đáng kể.
– Chụp cắt lớp vi tính (chụp CT): Để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh, người bệnh cần tiến hành chụp CT scan bụng. Thông qua phương pháp này, bác sĩ có thể quan sát được đường cong vôi hóa hoặc hiện tượng vôi hóa rải rác ở thành túi mật. Ngoài ra, chụp CT bụng còn giúp phát hiện sớm ung thư biểu mô túi mật, ung thư túi mật xâm lấn các cơ quan lận cận và tình trạng di căn trong gan.
6. Điều trị
Khi bệnh nhân được chẩn đoán mắc vôi hóa túi mật, các bác sỹ thường đề xuất phương án phẫu thuật cắt bỏ túi mật. Các phương pháp phẫu thuật có thể thay đổi tùy thuộc vào hình ảnh siêu âm và triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân.
Trên hình siêu âm, có 3 dạng khác nhau của túi mật bị vôi hóa bao gồm:
– Loại I: Dải hoặc hình bán nguyệt tăng âm có bóng cản, niêm mạc thành túi mật vôi hóa rộng và liên tục của các lớp cơ;
– Loại II: Cấu trúc tăng âm cong, hai mặt lồi với mức độ cản âm thay đổi;
– Loại III: Cục gồ ghề tăng âm có bóng cản.
Loại II và III đặc trưng bởi sự hiện diện của nhiều loại chấm vôi hóa nằm trên niêm mạc túi mật, loại vôi hóa này được xem là nguy hiểm và có nguy cơ cao về ung thư. Trong những trường hợp này, phẫu thuật mở với việc cắt bỏ toàn bộ túi mật thường được ưu tiên. Bác sĩ phẫu thuật sẽ thực hiện một vết rạch khoảng 13 – 18 cm ở phần hạ sườn phải để loại bỏ túi mật hoàn toàn.
Ngược lại, vôi hóa túi mật loại I thường ít nghiêm trọng hơn và có thể được điều trị bằng phẫu thuật ít xâm lấn như cắt túi mật nội soi để giảm nguy cơ nhiễm trùng, chảy máu và hỗ trợ quá trình hồi phục.
7. Phòng bệnh
Đề phòng túi mật sứ có thể được thực hiện thông qua lối sống ăn uống lành mạnh và có kế hoạch tập luyện đều đặn, nhằm giảm nguy cơ hình thành sỏi túi mật và giảm khả năng vôi hóa thành túi mật. Cụ thể như sau:
- Tăng cường ăn chất xơ: Bổ sung chế độ ăn uống với nhiều thực phẩm giàu chất xơ như các loại đậu, trái cây, rau xanh và ngũ cốc nguyên hạt;
- Sử dụng chất béo lành mạnh: Tiêu thụ các loại chất béo lành mạnh như dầu cá và dầu ô liu để hỗ trợ túi mật trong quá trình co bóp và duy trì ổn định;
- Hạn chế đường và chất béo không lành mạnh: Tránh ăn các loại thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo không lành mạnh, carbohydrate tinh chế.
- Tập luyện thường xuyên để tăng cường sức khoẻ.
- Kiểm tra sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh sớm.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















