BỆNH VIÊM GAN VI RÚT B
Viêm gan vi rút B là một bệnh truyền nhiễm, gây ra bởi vi rút viêm gan B. Đây là một trong những bệnh gan phổ biến nhất trên thế giới, bệnh có những biến chứng nặng nề, thậm chí tử vong, nhưng bệnh cũng có thể phòng được bằng tiêm vắc xin sớm.
Nội dung
1. Khái niệm về viêm gan B
1.1. Bệnh viêm gan B là gì?
Viêm gan B (viêm gan vi rút B) là một trong những loại bệnh gan phổ biến nhất thế giới. Bệnh do vi rút viêm gan B (HBV) tấn công và gây tổn thương tế bào gan. Viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm thầm lặng, vì hầu hết người bệnh không có triệu chứng khi mới mắc bệnh hoặc mắc bệnh ở dạng mạn tính. Do vậy, người bệnh có thể vô tình làm lây nhiễm vi rút cho người khác, cứ như vậy bệnh tiếp tục lan truyền rộng trong cộng đồng.
1.2. Dịnh tế học về nhiễm viêm gan B
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Viêm gan B, thế giới có đến 2 tỷ người bị nhiễm viêm gan B, tức là trung bình cứ 4 người sẽ có 1 người bị mắc bệnh này (khoảng 25-30%). Trong đó, có đến 257 triệu người bị mắc viêm gan B mạn tính, không thể loại trừ được vi rút HBV khỏi cơ thể. Theo tổ chức này, mỗi năm có khoảng 700.000 người tử vong do viêm gan B và các biến chứng của căn bệnh này.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh viêm gan B gây ra gánh nặng lớn cho hệ thống y tế toàn cầu. Bệnh lây nhiễm cao nhất là ở Khu vực Tây Thái Bình Dương và Châu Phi, với lần lượt là 116 triệu và 81 triệu người mắc bệnh viêm gan B mạn tính. Ở các khu vực khác, có đến 60 triệu người bị nhiễm bệnh ở Đông Địa Trung Hải, 18 triệu người ở Khu vực Đông Nam Á, 14 triệu ở Khu vực Châu Âu và 5 triệu ở Khu vực Châu Mỹ.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm viêm gan B cao nhất thế giới. Theo Bộ Y tế, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 10 triệu người (khoảng 10%) nhiễm viêm gan B, phần lớn là bệnh viêm gan B mạn tính.
2. Phân loại viêm gan B
Có hai loại viêm gan B là: cấp tính và mạn tính.
2.1. Viêm gan B cấp tính
Viêm gan B cấp tính là một tình trạng nhiễm trùng ngắn do HBV, kéo dài trong vòng 6 tháng tính từ thời điểm người bệnh tiếp xúc với HBV. Thông thường, người nhiễm viêm gan B cấp tính không có triệu chứng hoặc chỉ xuất hiện triệu chứng nhẹ không điển hình. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp nghiêm trọng khiến người bệnh cần nhập viện để điều trị.
Nhiều người mắc viêm gan B cấp tính, đặc biệt là ở độ tuổi trưởng thành, có thể tự loại bỏ vi rút ra khỏi cơ thể bằng hoạt động của hệ miễn dịch và khỏi hoàn toàn sau vài tháng mà không gây di chứng. Thực tế cho thấy, có tới 90% người trưởng thành bị nhiễm HBV tự khỏi bệnh. Tuy nhiên, nếu hệ miễn dịch không thể tiêu diệt vi rút, viêm gan B cấp tính có thể tiến triển thành viêm gan B mạn tính.

2.2. Viêm gan B mạn tính
Những người dương tính với HBV trong hơn 6 tháng kể từ lần xét nghiệm máu đầu tiên được chẩn đoán là mắc bệnh viêm gan B mạn tính. Điều này cho biết hệ miễn dịch của người bệnh không thể loại bỏ vi rút viêm gan B và vi rút vẫn tiếp tục tồn tại trong cơ thể của họ, chủ yếu trong máu và gan. Vi rút có thể tiếp tục tồn tại trong một thời gian dài và có thể tồn tại trong máu suốt cuộc đời của người bệnh.
Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến các bệnh gan nghiêm trọng, bao gồm xơ gan và ung thư gan. Tuy không phải tất cả những người mắc bệnh viêm gan B mạn tính đều gặp phải những vấn đề gan nghiêm trọng, nhưng họ có nguy cơ cao hơn so với những người không nhiễm bệnh.
3. Nguyên nhân viêm gan B
Bệnh viêm gan B do vi rút viêm gan B gây ra với khả năng lây lan qua máu, tinh dịch và các chất dịch cơ thể khác từ người bị nhiễm vi rút. HBV có một lớp vỏ bên ngoài và một lõi bên trong. Lớp vỏ bên ngoài của vi rút bao gồm một loại protein bề mặt được gọi là kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg). Lõi bên trong của vi rút là một vỏ protein được gọi là kháng nguyên lõi viêm gan B (HBcAg), chứa DNA của vi rút viêm gan B và các enzym được sử dụng trong quá trình nhân lên của vi rút.
4. Triệu chứng
4.1. Dấu hiệu viêm gan B cấp tính
Dấu hiệu của viêm gan B cấp tính có thể gồm chán ăn, đau khớp và cơ, sốt nhẹ hoặc có thể gây đau dạ dày. Thông thường, không phải ai cũng có triệu chứng, nhưng trong trường hợp có, chúng thường xuất hiện sau khoảng 60 – 150 ngày kể từ khi mắc bệnh, thời gian trung bình từ khi nhiễm bệnh đến khi triệu chứng xuất hiện là 3 tháng. Một số người có thể gặp phải những triệu chứng nghiêm trọng hơn như buồn nôn, nôn mửa, da và mắt bị vàng.
4.2. Biểu hiện viêm gan B mạn tính
Hầu hết bệnh nhân mắc viêm gan B mạn tính không xuất hiện các biểu hiện điển hình trong nhiều năm. Nếu có triệu chứng xuất hiện, chúng thường giống với những triệu chứng của một bệnh nhiễm trùng cấp tính.
Trường hợp người bệnh đã bị nhiễm viêm gan B trong một thời gian dài trước khi bắt đầu có triệu chứng, có khả năng cao đó là dấu hiệu của những biến chứng nguy hiểm của viêm gan B như xơ gan hoặc ung thư gan.
4.3. Ai dễ mắc viêm gan B?
Mặc dù bất kể ai cũng đều có nguy cơ bị nhiễm viêm gan B, nhưng có một số nhóm người nguy cơ cao, dễ bị nhiễm bệnh hơn. Công việc, lối sống và cả việc sinh ra trong một gia đình có người bị nhiễm viêm gan B đều có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh. Dưới đây là một số nhóm người có nguy cơ cao:
– Người kết hôn hoặc sống cùng với người bị viêm gan B, bao gồm cả người lớn và trẻ em.
– Người sinh ra ở các nước với đặc điểm dịch tễ có bệnh viêm gan B lưu hành, hoặc có cha mẹ sinh ra ở các nước đó, chẳng hạn như Châu Á, một số vùng ở Châu Phi và Nam Mỹ, Đông Âu và Trung Đông.
– Người sống trong hoặc đi đến các nước mà tỷ lệ viêm gan B cao như Châu Á, một số vùng ở Châu Phi và Nam Mỹ, Đông Âu và Trung Đông.
– Người trưởng thành và thanh thiếu niên có quan hệ tình dục không an toàn.
– Nam giới có quan hệ tình dục đồng giới.
– Trẻ sơ sinh sinh ra từ mẹ bị nhiễm viêm gan B.
– Nhân viên chăm sóc sức khỏe và những người có tiếp xúc với máu trong công việc.
– Bệnh nhân mắc bệnh về thận có thực hiện các phương pháp điều trị chạy thận nhân tạo.
– Những người đã được truyền máu trước năm 1992 hoặc những người đã nhận máu chưa được sàng lọc đáng tin cậy gần đây.
– Những người có tiền sử tiêm chích ma túy.
– Những người có xăm hình hoặc xỏ lỗ trên cơ thể.
5. Đường lây và biến chứng của viêm gan B
5.1. Viêm gan B lây qua đường nào?
HBV có thể lây truyền từ người này sang người khác qua máu, tinh dịch hoặc các chất dịch cơ thể khác. Điều này có thể xảy ra thông qua quan hệ tình dục; dùng chung kim tiêm, ống tiêm hoặc dụng cụ tiêm ma túy khác; tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc các chất dịch cơ thể khác từ người bị nhiễm bệnh; lây nhiễm từ người mẹ bị nhiễm bệnh sang trẻ trong quá trình mang thai hoặc khi sinh hoặc sử dụng thiết bị y tế chưa được khử trùng đúng cách, ví dụ như khi tiêm thuốc, châm cứu, xăm hình hoặc xỏ lỗ tai/cơ thể…
5.2. Biến chứng viêm gan siêu vi B
Người mắc bệnh viêm gan B dạng mạn tính có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng như:
– Tình trạng viêm liên quan đến vi rút viêm gan B có thể gây sẹo gan lan rộng, gọi là xơ gan, có thể làm suy giảm khả năng hoạt động của gan.
– Những người mắc viêm gan B mạn tính có nguy cơ cao hơn mắc ung thư gan.
– Suy gan cấp tính là tình trạng mất chức năng gan. Khi gan bị suy yếu, việc cần thiết phải thực hiện ghép gan để duy trì sự sống.
– Những người bị viêm gan B mạn tính và hệ thống miễn dịch yếu có thể bị tái phát vi rút viêm gan B ngay cả khi đã điều trị bằng các phương pháp cần thiết. Khi tái phát, bệnh có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng hoặc gây ra suy gan.
– Những người bị viêm gan B mạn tính cũng có thể mắc các vấn đề sức khỏe khác như viêm thận hoặc viêm mạch máu.
6. Chẩn đoán, xét nghiệm viêm gan B
Viêm gan B có thể được chẩn đoán thông qua chuỗi các xét nghiệm máu bao gồm:
– HBsAg: Xét nghiệm nhằm phát hiện sự có mặt của kháng nguyên bề mặt viêm gan B trong máu, cho biết cơ thể đã bị nhiễm viêm gan B.
– HBsAb hoặc anti-HBs: Xét nghiệm nhằm đo lượng kháng thể bề mặt viêm gan B trong máu.
– HBcAb hoặc anti-HBc: Xét nghiệm nhằm phát hiện sự có mặt của kháng thể lõi viêm gan B trong máu.
– HBeAg: Xét nghiệm nhằm xác định sự có mặt của kháng nguyên vỏ vi rút viêm gan B trong máu.
Ngoài ra, viêm gan B có thể được chẩn đoán thông qua các phương pháp khác như:
– Siêu âm gan: Được thực hiện bằng cách đo độ đàn hồi của gan nhằm xác định mức độ tổn thương gan.
– Sinh thiết gan: Được thực hiện bằng cách đưa một cây kim mỏng xuyên qua da vào gan để lấy một mẫu mô gan nhỏ để phân tích tế bào học trong phòng thí nghiệm nhằm kiểm tra tổn thương gan.
7. Điều trị
Nếu bệnh nhân được chẩn đoán mắc viêm gan B cấp tính, không nhất thiết phải điều trị, vì không có phương pháp nào có thể loại trừ hoàn toàn viêm gan B cấp tính. Thông thường, hầu hết người lớn bị nhiễm bệnh sẽ tự hồi phục. Tuy nhiên, trong trường hợp này, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý, uống đủ nước và theo dõi diễn biến của cơ thể. Nếu trạng thái nặng, bệnh nhân có thể cần sử dụng thuốc kháng vi rút hoặc được nằm viện để ngăn ngừa biến chứng.
Đối với viêm gan B mạn tính, quyết định áp dụng phương pháp điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một số phương pháp điều trị phổ biến gồm:
– Sử dụng các loại thuốc kháng vi rút như entecavir (Baraclude), tenofovir (Viread), lamivudine (Epivir), adefovir (Hepsera) và telbivudine để chống lại vi rút và làm chậm quá trình gây tổn thương gan do vi rút gây ra.
– Tiêm Interferon Alfa-2b: Đây là một chất nhân tạo được sản xuất để chống nhiễm trùng và có khả năng kích thích hệ miễn dịch của cơ thể.
– Trong trường hợp gan bị tổn thương nghiêm trọng, ghép gan có thể là một phương pháp điều trị cần thiết, gan bị tổn thương sẽ được loại bỏ và được thay thế bằng một lá gan khỏe mạnh từ người khác.
8. Phòng bệnh
Phương pháp phòng ngừa viêm gan B hiệu quả, tiết kiệm và đơn giản nhất hiện nay là tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch vắc xin phòng bệnh viêm gan B theo khuyến cáo của Bộ Y tế. Vắc xin viêm gan B được khuyến nghị cho tất cả các trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 18 tuổi bởi Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC). CDC cũng khuyến nghị người lớn thuộc các nhóm nguy cơ cao nên được tiêm phòng.

Chương trình tiêm chủng mở rộng của nhà nước có đầy đủ các loại vắc xin phòng bệnh viêm gan B cho cả trẻ em và người lớn, đáp ứng nhu cầu tiêm chủng vắc xin an toàn cho trẻ em và người lớn trên toàn quốc.
Ngoài ra, dựa vào những đường lây truyền của viêm gan siêu vi B, các chuyên gia đưa ra khuyến cáo về các biện pháp phòng ngừa khác nên được phối hợp thực hiện song song với việc chủng ngừa bệnh như sau:
– Đảm bảo quan hệ tình dục an toàn;
– Đảm bảo tiếp xúc an toàn tuyệt đối với kim (xăm, xỏ khuyên, châm cứu, chích,…);
– Tránh tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch cơ thể của người khác;
– Tránh sử dụng chung các vật sắc nhọn như dao cạo râu, bấm móng tay, bàn chải đánh răng, bông tai hoặc nhẫn trên cơ thể…
– Kiểm tra sức khoẻ định kỳ, với người trên 40 tuổi thì ít nhất 1 lần/năm.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com














