XỬ TRÍ RẮN CẮN
Rắn cắn là một tai nạn thường gặp trong đời sống. Việc trang bị kiến thức cơ bản để nhận biết mức độ nguy hiểm và sơ cứu nạn nhân bị rắn cắn giúp bản thân và gia đình có thể tránh được các mối nguy hiểm từ rắn cắn.
Nội dung
1. Khái quát về rắn
1.1. Các loại rắn
Trên thế giới có khoảng 3.500 loài rắn, trong số đó chỉ có 15% – 20% loài có nọc độc hoặc chất tiết nước bọt độc hại đối với con người. Ở Việt Nam có khoảng 140 loài rắn, trong đó có khoảng 18 loài rắn độc ở đất liền và 13 loại rắn độc ở biển. Nọc rắn độc gồm hơn 20 thành phần khác nhau, chủ yếu là protein chứa các men và độc tố polypeptide; tùy loại rắn mà thành phần chất độc cũng khác nhau.
Mùa mưa là mùa sinh sản và phát triển của rắn, đặc biệt các loài rắn độc. Tình trạng mưa lụt kéo dài do biến đổi khí hậu còn phá vỡ môi trường sống của rắn nên chúng phải “tìm đường” khác để trú ẩn và kiếm ăn như vườn tược, tán cây, bụi cỏ,… Đây chính là nguyên nhân vào mùa mưa, số nạn nhân bị rắn cắn nhập viện cấp cứu gia tăng với những mức độ nguy hiểm khác nhau.

1.2. Rắn cắn
Thông thường rắn không chủ động tấn công con người, trừ khi rắn bị giật mình (bị người dẫm lên) hay bị tấn công dẫn đến bị thương. Nói chung phần lớn các loài rắn đều cố gắng tránh đối mặt trực tiếp với con người. Trừ các loài trăn lớn, các loài rắn không có nọc độc thì không phải là mối đe dọa hoặc nguy hiểm đối với người. Những vết cắn của rắn không nọc thường là vô hại do răng của chúng không được thiết kế để xé rách hay gây ra những vết thương sâu, mà là để tóm giữ. Tuy vậy vẫn có khả năng xảy ra tổn thương mô và nhiễm trùng từ những vết do rắn không nọc độc cắn.
Ngược lại, rắn có nọc độc (rắn độc) lại tiềm ẩn nguy hiểm lớn hơn nhiều cho con người, cho dù những ca tử vong do rắn cắn không phải là quá phổ biến. Những nạn nhân bị rắn độc cắn nếu may mắn không tử vong thì cũng có nguy cơ phải cắt cụt một phần chân hoặc tay tuỳ theo vị trí cắn. Trong số khoảng 725 loài rắn có nọc độc trên toàn thế giới thì có khoảng 250 loài có thể giết chết con người chỉ bằng một nhát cắn.
Những biểu hiện thông thường khi bị rắn độc cắn bao gồm: chảy máu, cảm thấy đau đớn, mệt mỏi, khó thở, phù nề, hoại tử, thậm chí nhiễm trùng máu hoặc đối diện nguy cơ tử vong nếu không cứu chữa kịp thời. Tuy nhiên, không phải loại rắn nào sau khi cắn cũng gây nguy hiểm. Việc nhận biết sự khác nhau giữa rắn độc và rắn không độc để có cách xử lý phù hợp và sơ cứu khi rắn cắn đúng cách là rất cần thiết.
2. Phân biệt vết rắn cắn
Nếu phân chia về họ rắn độc thường gặp là rắn hổ (rắn hổ đất, rắn hổ mèo, hổ mang bành, hổ mang phì, hổ mang chúa, rắn cạp nong, cạp nia,…); họ rắn lục (rắn lục đuôi đỏ, rắn chàm quạp, rắn hổ bướm, rắn khô mộc,…); họ rắn biển (nọc độc tác động lên hệ thần kinh giống rắn hổ nhưng chỉ bị tê chứ không đau, chảy máu và gây tử vong 50%).
Còn nếu phân chia về triệu chứng gây độc thì có nhóm rắn độc chuyên gây rối loạn đông máu (rắn chàm quạp, rắn lục đuôi đỏ,…) và nhóm gây liệt, suy hô hấp (rắn hổ đất, hổ chúa, hổ mèo, cạp nong, cạp nia, rắn biển,…).
Cách nhận biết vết cắn là của rắn độc hay rắn không độc thì ngoài việc căn cứ vào vết răng cắn, kinh nghiệm dân gian còn phân biệt 2 loài rắn này dựa vào hình dáng, màu sắc và âm thanh phát ra của chúng.
Vết răng cắn: Rắn độc thường có hai răng độc lớn có vai trò như chiếc kim tiêm. Khi rắn cắn sẽ đồng thời tiêm độc vào vùng da của nạn nhân và để lại vết răng đặc trưng sau khi cắn. Do đó, nạn nhân khi bị rắn độc cắn thì để lại ít dấu răng ở vết cắn nhưng để lại 2 vết răng nanh. Mỗi vết cắn của răng nanh cách nhau khoảng 5mm và 1 số vết răng nhỏ. Trong khi rắn không có độc khi cắn sẽ để lại vết của cả 2 hàm răng với những chấm nhỏ hình vòng cung và đặc biệt không có vết răng nanh.
Về màu sắc: Mỗi loại rắn có những màu sắc đặc trưng, ví dụ rắn cạp nong (thân mình khúc vàng khúc đen xen kẽ), rắn cạp nia (thân mình xen kẽ khúc trắng khúc đen), họ rắn lục (đầu to hình thoi hoặc tam giác), riêng rắn lục đuôi đỏ (thân màu xanh nhưng đuôi có màu đỏ).
Biểu hiện tấn công, một số loại rắn độc có đặc điểm đặc trưng bên ngoài rất dữ tợn như: rắn hổ mang (khi chuẩn bị tấn công thì cổ bạnh, phát âm thanh đặc trưng). Một số loài rắn hổ mang có thể bắn nọc độc từ xa, nếu nọc độc văng vào mắt nạn nhân cũng có thể gây tổn thương mắt và làm nhiễm độc toàn thân.
Tóm lại, rắn độc thường có các đặc điểm sau:
– Màu sắc sặc sỡ hơn so với rắn không độc.
– Đầu hình tam giác, phủ bằng các vảy nhỏ, phân biệt rõ ràng với thân mình, có hố má ở hai bên đầu – giữa mắt và mũi.
– Mặt bên đầu thiếu vảy má, vảy trước tiếp xúc với vảy mũi.
– Vảy đuôi đơn.
– Có hai móc độc dài, phân biệt rõ với răng. Mỗi móc độc có 1 ống độc hoặc rãnh, do đó nọc độc có thể đưa sâu vào cơ thể nạn nhân (qua da vào cơ). Riêng rắn hổ có thể phóng nọc thành đám bụi trực tiếp vào mắt con mồi và gây độc.
Ngược lại, rắn không độc có các đặc điểm:
– Không có móc độc.
– Sau 2 giờ, vị trí cắn không bị sưng phù, xuất huyết hay hoại tử. Sau 6 giờ, không phát sinh các triệu chứng toàn thân như xuất huyết hay thần kinh.
3. Triệu chứng rắn cắn
Hầu hết các nạn nhân bị rắn cắn ở vùng chân hoặc tay với các triệu chứng điển hình là đau và trầy xước tại chỗ. Khi nọc độc đã xâm nhập vào cơ thể, nạn nhân sẽ bị đau rát dữ dội tại chỗ cắn do mức độ cắm vào mô (tăng vận mạch tại vết cắn, phù nề tại chỗ), xung quanh vết cắn có thể bị sưng hạch bạch huyết, cảm giác ngứa và tê nơi bị cắn sau lan ra khắp cánh tay hoặc chân. Trường hợp bị rắn cạp nong, cạp nia hoặc rắn biển cắn, triệu chứng đau rất nhẹ, sưng phù tại chỗ thoáng qua.

Triệu chứng lâm sàng khi bị rắn độc cắn (nhiễm nọc độc rắn):
– Triệu chứng tại chỗ vùng bị cắn: có dấu móc độc của răng để lại, đau tại chỗ, chảy máu và bầm tím tại chỗ, sưng và viêm hạch, sưng nề, đỏ nóng, nổi bóng nước, nhiễm trùng, áp xe, hoại tử.
– Nếu nọc phun vào mắt, sẽ xuất hiện ngay các triệu chứng: Đau như kim chích, bỏng rát dữ dội liên tục, chảy nước mắt, dử trắng, kết mạc sung huyết, sưng nề mi mắt, sợ ánh sáng, nhìn mờ; xuất hiện các biến chứng như loét giác mạc, sẹo giác mạc vĩnh viễn, viêm nội nhãn thứ phát.
– Biểu hiện toàn thân: Buồn nôn, nôn, khó chịu, đau bụng, yếu toàn thân, ngủ gà, mệt lả,…
– Tim mạch: Chóng mặt, ngất xỉu, sốc, tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, phù phổi,…
– Rối loạn đông cầm máu: Chảy máu từ vết thương, chảy máu hệ thống tự phát (chảy máu cam, chảy máu răng, ho ra máu, tiểu máu, đi ngoài phân đen, chảy máu âm đạo, xuất huyết dưới da, xuất huyết niêm mạc, xuất huyết não…).
– Thần kinh: Ngủ gà, liệt mềm hoàn toàn, bất thường về khứu giác, mất tiếng, khó nuốt,…
– Thận: Rơi vào tình trạng thiểu niệu (là khi nước tiểu ra < 500 mL trong 24 giờ ở người lớn hoặc < 0,5 mL/kg/h ở người lớn hoặc trẻ nhỏ (< 1 mL/kg/h ở trẻ sơ sinh) hoặc vô niệu, tiểu huyết sắc tố, dấu hiệu tăng ure máu (toan hô hấp, nấc, đau ngực do viêm màng phổi,…).
– Vỡ cơ toàn thân: Đau cơ, cứng hàm, myoglobin niệu, suy thận cấp.
– Nội tiết: Suy thượng thận cấp, sốc, giảm đường huyết; sau đó yếu mệt toàn thân, suy tuyến giáp, suy sinh dục.
– Các biến chứng lâu dài của rắn cắn: Mất mô do cắt lọc hoặc cắt cụt chi, loét kéo dài, nhiễm trùng, viêm cơ xương khớp kéo dài gây biến dạng; suy thận mạn, suy tuyến yên mạn, tiểu đường, suy giảm tinh thần kinh mạn tính.
4. Xử trí rắn cắn
Việc trang bị cách sơ cứu khi bị rắn cắn nhằm ngăn chặn chất độc từ nọc rắn phát tán và gây ra những hậu quả đáng tiếc, thậm chí dẫn đến tử vong cho nạn nhân. Do đó, để giảm tối đa tác hại của nọc rắn với cơ thể, bên cạnh cách sơ cứu người bị rắn cắn, triệu chứng, cách nhận biết, cũng cần biết những gì “Nên” và “Không nên” làm khi bị rắn cắn.
4.1. Mục tiêu việc xử trí rắn cắn
Như trên đã nói, mục đích của sơ cứu người bị rắn cắn là làm chậm và hạn chế sự xâm nhập của nọc độc vào cơ thể nạn nhân. Qua đó, ngăn chặn những biến chứng nguy hiểm và nguy cơ gây hại cho tính mạng có thể xảy ra. Vì thế, các bước sơ cứu khi bị rắn cắn cần thực hiện chính xác, cẩn thận để đạt được mục đích này.
Thống kê cho thấy trong nọc rắn có chứa hơn 20 thành phần khác nhau, chủ yếu là các men và độc tố polypeptides. Bao gồm các thành phần chính như: Men tiền đông (kích hoạt các bước khác nhau của quá trình đông, cầm máu, hình thành sợi tơ huyết…); Thành phần gây chảy máu (tổn thương nội mô thành mao mạch, gây chảy máu toàn thân tự phát); Thành phần gây độc tố tế bào, hoại tử (làm tăng tính thấm thành mạch, gây phù nề cục bộ; hủy hoại màng tế bào và mô); Thành phần gây tổn thương thần kinh (tổn thương tận cùng thần kinh, nơi dẫn truyền acetylcholine vừa được giải phóng, can thiệp vào quá trình giải phóng acetylchilone); Thành phần gây độc thần kinh (tranh chấp thụ thể thần kinh tại tấm động thần kinh – cơ, gây liệt cơ)…
4.2. Các bước sơ cứu rắn cắn
Nếu bị rắn độc cắn, nhanh chóng gọi dịch vụ cấp cứu khẩn cấp tại cơ sở y tế gần nhất. Trong thời gian chờ sự trợ giúp y tế, người thực hiện sơ cứu nên tuân theo các bước sau:
– Di chuyển nạn nhân xa ra khỏi tầm hoạt động của con rắn.
– Trấn an người bị rắn cắn, giữ tâm lý bình tĩnh, hạn chế cử động, bất động chi bị cắn bằng nẹp, để làm chậm sự lây lan của nọc độc.
– Tháo bỏ đồ trang sức và nới lỏng quần áo nhằm tránh gây chèn ép và làm sưng vết thương.
– Điều chỉnh tư thế cho vùng bị rắn cắn nằm thấp hơn tim, ngay cả trong lúc được vận chuyển đến bệnh viện (có thể cầm theo xác con rắn hay chụp lại hình ảnh rắn cắn, mô tả loại rắn cắn).
– Làm sạch vết thương bằng xà phòng và nước muối sinh lý.
– Dùng một miếng gạc khô và sạch để băng kín vùng bị cắn.
Theo các chuyên gia y tế, điều quan trọng nhất, sau khi bị rắn tấn công, nạn nhân cần được nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí bằng huyết thanh kháng nọc rắn càng sớm càng tốt, ít nhất trong 12 giờ đầu. Ngoài ra, tùy trường hợp nạn nhân còn có thể cần phải thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu như lọc máu, điều trị kháng sinh,… Vì thế, việc nhanh chóng đưa nạn nhân đến cấp cứu sẽ giúp tăng hiệu quả điều trị, giảm những biến chứng nghiêm trọng cho người bệnh.
Còn theo nghiên cứu của Viện Vacxin và Sinh phẩm y tế Nha Trang, đối với huyết thanh kháng nọc rắn hổ, thời gian hồi phục trung bình của các triệu chứng chính sau khi tiêm huyết thanh là: Hết sụp mí sau 13 giờ, hết giãn đồng tử sau 9 giờ, hết liệt chi sau 13 giờ, hết liệt cơ sườn sau 10 giờ, hết liệt cơ hoành sau 12 giờ, hết liệt cơ hô hấp sau 15 giờ (đồng thời, nạn nhân qua cơn nguy kịch); với huyết thanh kháng nọc rắn lục, việc cải thiện tình trạng chảy máu thể hiện rất rõ, hạn chế được tình trạng rối loạn đông máu do nọc rắn gây nên.
4.3. Những điều không nên làm khi sơ cứu rắn cắn
Để bảo vệ tính mạng của bản thân và những người xung quanh, cần ghi nhớ một số lưu ý sau khi bị rắn cắn:
– Khi thấy người bị rắn cắn không nên chờ đợi mà đưa ngay người bệnh đến các cơ sở y tế thăm khám; không nên có tâm lý chủ quan, chỉ khi thấy những biểu hiện nghiêm trọng như suy hô hấp, vết thương hoại tử lan rộng,… mới cần cấp cứu.
– Không nên áp dụng những bài thuốc dân gian để sơ cứu người bị rắn cắn nếu chưa tham khảo ý kiến bác sĩ.
– Không sử dụng băng garo cột chặt vùng bị rắn cắn để tránh làm đau nạn nhân, cản trở lưu thông máu đến các chi gây hoại tử.
– Không tự ý chườm lạnh, bôi hóa chất, đắp lá cây,… lên vết thương hoặc uống thuốc khi chưa có sự chỉ định của bác sĩ.
– Không rạch, đâm chích vết thương hoặc cố gắng loại bỏ nọc độc để tránh làm nặng thêm tình trạng nhiễm trùng.
– Người bị rắn cắn không nên dùng thức uống có chứa caffeine hoặc rượu vì chúng có thể làm tăng tốc độ hấp thụ nọc độc của cơ thể.
– Không nên cố gắng bắt bằng được rắn mà nên ghi nhớ màu sắc, hình dạng và cách rắn tấn công. Nếu có thể, hãy chụp ảnh rắn từ khoảng cách an toàn để giúp bác sĩ nhận dạng và hỗ trợ cho quá trình điều trị nhanh chóng hơn.
5. Phòng ngừa rắn cắn
– Cần hiểu biết về loại rắn trong vùng sinh sống, biết khu vực rắn thích sống hoặc ẩn nấp.
– Đi ủng, dày cao cổ và quần dài, đặc biệt khi đi trong đêm tối, đội thêm mũ rộng vành nếu đi trong rừng hoặc đi ở khu vực nhiều cây cỏ.
– Càng tránh xa rắn thì càng tốt, đầu rắn đã chết vẫn có thể cắn người. Không bắt rắn, đuổi hoặc dồn ép rắn trong khu vực khép kín.
– Không sống ở gần các nơi rắn thích cư trú hoặc thích đến như các đống gạch vụn, đống đỏ nát, đống rác, nơi nuôi các động vật của gia đình.
– Để tránh bị rắn biển cắn, người dân không nên bắt rắn ở trong lưới hoặc dây câu.
– Dùng đèn nếu ở trong bóng tối hoặc vào ban đêm.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















