CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG
Tiêm chủng là một giải pháp phòng bệnh tiến tiến và hiệu quả nhất của y học. Việc phát minh ra vắc xin và tiêm chủng đã cứu giúp hàng triệu người thậm chí cả loài người thoát khỏi nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm.
Nội dung
1. Vắc xin và vai trò của vắc xin
1.1. Vắc xin
Vắc xin (Vaccine) là một loại thuốc có chứa các thành phần kháng nguyên, thường được tạo ra từ vi sinh vật gây bệnh hoặc các công nghệ tái tổ hợp, đã được xử lý để đảm bảo an toàn. Vắc xin giúp cơ thể tạo ra miễn dịch tự nhiên chống lại các bệnh truyền nhiễm cụ thể, bằng cách kích thích hệ thống miễn dịch tạo ra kháng thể để bảo vệ cơ thể khi tiếp xúc với mầm bệnh trong tương lai.
Vắc xin khi vào cơ thể sẽ:
– Kích thích hệ miễn dịch: Vắc xin chứa các kháng nguyên (thường là các phiên bản suy yếu hoặc bất hoạt của vi khuẩn hoặc virus), giúp hệ thống miễn dịch nhận diện và tạo ra kháng thể để chống lại chúng.
– Tạo ra miễn dịch: Khi hệ thống miễn dịch đã được “tập huấn” bằng vắc xin, nó sẽ tạo ra các tế bào trí nhớ. Những tế bào này sẽ nhớ “kỹ năng” nhận diện và tấn công kháng nguyên nếu gặp phải trong tương lai.
– Bảo vệ cơ thể: Khi cơ thể tiếp xúc với mầm bệnh thực sự, hệ thống miễn dịch sẽ nhanh chóng nhận diện và tấn công chúng trước khi chúng gây ra bệnh.
1.2. Vai trò vắc xin với cơ thể
- Phòng bệnh: Vắc xin là một trong những công cụ hiệu quả nhất để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và biến chứng nguy hiểm.
- Cứu sống: Vắc xin đã đóng vai trò quan trọng trong việc cứu sống hàng triệu người trên toàn thế giới, góp phần vào việc loại trừ hoặc kiểm soát nhiều loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
- Bảo vệ cộng đồng: Việc tiêm vắc xin không chỉ bảo vệ bản thân mà còn bảo vệ những người xung quanh, đặc biệt là những người không thể tiêm vắc xin vì lý do sức khỏe.
Cần lưu ý rằng Vắc xin không phải là kháng sinh. Vắc xin để phòng bệnh, còn kháng sinh để điều trị bệnh. Khi tiêm vắc xin có thể gây ra một số tác dụng phụ như sốt, đau hoặc sưng tại vị trí tiêm, nhưng những tác dụng phụ này thường nhẹ và nhanh chóng biến mất.
2. Các loại vắc xin
Trước đây vắc xin được chia thành 3 loại: vắc xin giải độc tố, vắc xin chết, vắc xin sống giảm độc lực. Ngày nay với sự tiến bộ của công nghệ sinh học chúng ta có thêm 2 loại: vắc xin chiết tách và vắc xin tái tổ hợp.
2.1. Vắc xin giải độc tố
Được sản xuất từ ngoại độc tố của vi khuẩn bằng cách làm mất tính độc nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên. Khi hệ miễn dịch tiếp nhận vắc xin giải độc tố, chúng học cách chống lại độc tố tự nhiên. Hệ miễn dịch sản xuất ra các kháng thể trung hòa độc tố. Ví dụ: vắc xin bạch hầu, uốn ván…
2.2. Vắc xin bất hoạt (chết)
Được sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh đã chết. Các vắc xin này an toàn và ổn định hơn vắc xin sống, các vi sinh vật gây bệnh đã chết không thể đột biến trở lại. Các kháng nguyên chủ yếu kích thích đáp ứng miễn dịch.
Tuy nhiên vắc xin chết đáp ứng miễn dịch yếu hơn vắc xin sống nên được tiêm thành nhiều liều hoặc tiêm nhắc lại để duy trì miễn dịch. Điều này có thể hạn chế cho những người dân sống ở vùng không có điều kiện về chăm sóc y tế thường xuyên, không thể tiêm nhắc lại đúng lịch. Ví dụ: vắc xin ho gà, thương hàn, tả, Salk (phòng bại liệt), viêm não Nhật Bản…
2.3. Vắc xin sống giảm độc lực
Được sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật giống với vi sinh vật gây bệnh đã được làm giảm độc lực không còn khả năng gây bệnh. Do vắc xin sống, giảm độc lực gần giống như đáp ứng với nhiễm trùng tự nhiên nên chúng tạo ra đáp ứng miễn dịch và sinh kháng thể mạnh, thường gây ra miễn dịch lâu dài chỉ với 1 hoặc 2 liều. Ví dụ: vắc xin BCG sống, vắc xin thương hàn, Sabin (phòng bại liệt), sởi…Khi sử dụng cần phải hết sức đặc biệt quan tâm đến tính an toàn của vắc xin sống, phải đảm bảo không còn khả năng gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ và vi sinh vật phải có tính di truyền ổn định không trở lại độc lực ban đầu.
2.4. Vắc xin tách chiết
Kháng nguyên được tách chiết từ vi sinh vật. Ví dụ: kháng nguyên polysaccharid của cầu khuẩn màng não, polysaccharid của phế cầu…
2.5. Vắc xin tái tổ hợp
Bằng công nghệ sinh học hiện đại, gen mã hóa cho kháng nguyên vi sinh vật cần có để làm vacxin được tách và tái tổ hợp vào E. coli hoặc một dòng tế bào thích hợp. Ví dụ: vắc xin tả, thương hàn…
3. Tiêm chủng và chương trình tiêm chủng
3.1. Tiêm chủng là gì?
Tiêm chủng là phương pháp giúp con người tạo ra khả năng miễn dịch phòng bệnh truyền nhiễm thông qua vắc xin.
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, việc tiêm chủng đã cứu 4,4 triệu mạng sống mỗi năm trên toàn thế giới. Có thể nói, ngoại trừ nước sạch, chưa có một phương thức nào, ngay cả kháng sinh, có thể mang lại tác động tích cực trong việc giảm thiểu tỷ lệ tử vong như tiêm chủng vắc xin. Khi tiêm chủng, hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta nhận diện vắc xin là chất lạ nên ngay lập tức sẽ sản sinh ra “đội quân” kháng thể để tiến hành tiêu diệt và ghi nhớ chúng. Do đó, khi các tác nhân gây bệnh thật xâm nhập vào cơ thể trong tương lai, hệ miễn dịch sẽ ngay lập tức phản ứng, chống lại các tác nhân gây bệnh nhanh chóng và hiệu quả.
3.2. Các bệnh có thể phòng ngừa bằng tiêm chủng
Hiện nay đã có hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ đưa vắc xin vào sử dụng rộng rãi cho người dân. Tại Việt Nam, chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã được thực hiện từ rất sớm, đến nay đã hơn 30 năm. Danh sách các loại vắc xin trong chương trình TCMR tại Việt Nam bao gồm:
– Vắc xin phòng bệnh lao;
– Vắc xin phòng bệnh viêm gan B;
– Vắc xin phòng bệnh bạch hầu;
– Vắc xin phòng bệnh ho gà;
– Vắc xin phòng bệnh uốn ván;
– Vắc xin phòng bệnh bại liệt;
– Viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib;
– Vắc xin phòng bệnh sởi;
– Vắc xin phòng bệnh rubella;
– Vắc xin phòng viêm não Nhật Bản;
– Vắc xin phòng bệnh tả (vùng có nguy cơ cao);
– Vắc xin phòng thương hàn (vùng có nguy cơ cao).
Bên cạnh các loại vắc xin trong chương trình TCMR, vẫn còn rất nhiều loại vắc xin phòng hàng loạt bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như:
– Vắc xin phòng thủy đậu;
– Vắc xin phòng 3 bệnh: sởi, quai bị, rubella;
– Vắc xin phòng viêm gan A, vắc xin phòng viêm gan A+B;
– Vắc xin phòng viêm màng não do não mô cầu;
– Vắc xin phòng viêm màng não, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, viêm tai giữa do phế cầu khuẩn;
– Vắc xin phòng tiêu chảy do rota vi rút;
– Vắc xin phòng cúm;
– Vắc xin phòng dại;
– Vắc xin phòng thương hàn;
– Vắc xin HPV phòng ung thư cổ tử cung, âm đạo, âm hộ, ung thư hầu họng, hậu môn, mụn cóc sinh dục.
Chương trình Tiêm chủng mở rộng miễn phí của Quốc gia mặc dù được thực hiện tốt, giúp hàng triệu trẻ em được tiêm vắc xin phòng các loại bệnh nguy hiểm trong nhiều năm qua, tuy nhiên chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêm chủng vắc xin phòng nhiều loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em và người lớn.
Hiện nay, thế giới đã có hơn 40 loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm, trong khi đó, chương trình TCMR mới chỉ hỗ trợ miễn phí cho người dân hơn 10 loại vắc xin cơ bản nhất, và thỉnh thoảng bị gián đoạn do đứt nguồn cung ứng vắc xin.
Nhà nước cần quan tâm đầu tư hơn nữa cho chương trình tiêm chủng mở rộng để người dân có cơ hội được tiếp cận nhiều loại vắc xin. Cần thiết lập hệ thống dữ liệu tiêm chủng toàn dân để việc tiêm chủng được thực hiện đầy đủ, đúng lịch, người dân yên tâm về sự an toàn và tận hưởng dịch vụ tốt.
4. Lợi ích của việc tiêm chủng vắc xin
4.1. Lợi ích cho mỗi cá nhân
Tiêm chủng bảo vệ trẻ em khỏi bệnh tật, từ đó giúp trẻ không phải nghỉ học, nhờ vậy cải thiện kết quả học tập. Khi trẻ được bảo vệ khỏi bệnh tật, phụ huynh không cần phải nghỉ làm để chăm sóc con bị bệnh, không ảnh hưởng đến năng suất lao động. Đặc biệt, các gia đình cũng ít có nguy cơ phải chịu các nỗi đau tinh thần trước di chứng, mất mát và các chi phí cao khi điều trị và chăm sóc trẻ bị bệnh.
Không chỉ trẻ em, người lớn, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người có nhiều bệnh nền, người có hệ miễn dịch suy yếu cũng cần được tiêm chủng để được bảo vệ trước nguy cơ mắc bệnh, biến chứng, nhập viện hoặc thậm chí tử vong. Theo WHO, mỗi năm trên thế giới có hơn 1,5 triệu người tử vong vì những bệnh truyền nhiễm có thể phòng ngừa bằng vắc xin. 80% ca nhiễm, tử vong ở người lớn, người có nhiều bệnh nền hay miễn dịch yếu.

4.2. Lợi ích cho cộng đồng, xã hội
Nếu một người được tiêm vắc xin thì sẽ ít có khả năng mắc bệnh và lây sang cho người khác, cho thấy một người tiêm vắc xin cũng giúp bảo vệ được những người xung quanh. Khi càng nhiều người được tiêm vắc xin thì khả năng mắc bệnh và lây lan dịch trong cộng đồng càng thấp, điều này gọi là miễn dịch cộng đồng. Miễn dịch cộng đồng vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ những người chưa được tiêm chủng hoặc không thể tiêm chủng.
Ngoài ra, tiêm chủng là một trong những đầu tư sinh lợi nhất trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
– Thống kê của Trung tâm tiếp cận vắc xin quốc tế của Trường Y tế Công cộng Johns Hopkins Bloomberg (Mỹ) năm 2021 cho thấy cứ 1 USD (hơn 20.000 đồng) đầu tư cho mỗi liều vắc xin sẽ tiết kiệm được 20 USD (khoảng gần 500.000 nghìn đồng) trong tổng chi phí sử dụng cho y tế.
– Báo cáo từ nghiên cứu tại 11 quốc gia ở Tây Âu cho thấy chi phí cho một ca điều trị bệnh sởi khoảng 6-13 triệu VNĐ, trong khi đó chi phí để kiểm soát và tiêm vắc xin sởi cho một người chỉ khoảng vài trăm ngàn VNĐ.
5. Hậu quả của việc không tiêm chủng
Việc không tiêm chủng hoặc tiêm chủng muộn có thể mang đến những hậu quả nặng nề cho cá nhân và cộng đồng:
– Gia tăng nguy cơ mắc bệnh: Người không tiêm chủng sẽ không có kháng thể chống lại các mầm bệnh nếu xâm nhập vào cơ thể, gia tăng nguy cơ mắc bệnh và biến chứng.
– Biến chứng nặng nề: Các bệnh truyền nhiễm có thể gây ra các biến chứng nặng nề, đặc biệt là ở những đối tượng có hệ miễn dịch yếu như trẻ em, người già hoặc những người có bệnh lý mạn tính. Điển hình, mắc cúm có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng như suy hô hấp (trên nền bệnh tim và thuyên tắc động mạch phổi), viêm phổi, suy tim. Những biến chứng này có thể làm tăng tỷ lệ tử vong hoặc gây ra tác động lâu dài đối với sức khỏe.
– Bùng phát dịch bệnh: Dịch bệnh sẽ dễ dàng lây lan, bùng phát nếu ở trong một khu vực địa lý (phường, xã, thành phố) có nhiều người cùng không tiêm chủng. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của cộng đồng.
– Tăng gánh nặng chi phí cho hệ thống y tế: Bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng, phải nhập viện điều trị tích cực sẽ đối mặt với các vấn đề về chi phí y tế và các khoản chi phí phát sinh khác. Với cộng đồng, các đợt dịch bệnh có thể tăng chi phí y tế và tạo áp lực cho hệ thống y tế.
– Nguy cơ mất kiểm soát dịch bệnh: Dịch bệnh bùng phát và lây lan rộng trong khi nhân lực và vật lực y tế có hạn sẽ dẫn đến mất tình hình kiểm soát dịch bệnh, khó khống chế các ổ dịch mới xuất hiện.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















