CÁC DẤU HIỆU SINH TỒN
Dấu hiệu sinh tồn là các thông số sức khoẻ nhằm đánh giá sự tồn tại của một cơ thể sống. Có nhiều dấu hiệu sinh tồn nhưng thường tập trung vào 5 dấu hiệu chính là: mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở và độ bão hoà oxy trong máu.
Nội dung
1. Khái niệm về dấu hiệu sinh tồn
Dấu hiệu sinh tồn (hay Dấu hiệu sống) là thuật ngữ chỉ các chỉ số chức năng sống ở người, bao gồm: thân nhiệt (nhiệt độ), mạch (nhịp tim), huyết áp, nhịp thở và độ bão hòa oxy trong máu (SpO2). Việc theo dõi và xác định các dấu hiệu sinh tồn nhằm mục đích đánh giá chức năng hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và toàn trạng cơ thể.
Các dấu hiệu sinh tồn cần được đánh giá khi người bệnh đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế và khi chăm sóc sức khỏe tại nhà. Nhân viên y tế dựa vào kết quả đánh giá các dấu hiệu sinh tồn để đưa ra các can thiệp, chăm sóc phù hợp với tình trạng người bệnh, đồng thời theo dõi sự đáp ứng của người bệnh với phương pháp điều trị và chăm sóc. Khi chăm sóc sức khỏe tại nhà, nhân viên y tế cần hướng dẫn người bệnh và người nhà cách tự theo dõi các dấu hiệu sinh tồn cơ bản, giúp họ có thể tự theo dõi và đánh giá tình trạng sức khỏe chính xác nhất tại nhà.
Mỗi dấu hiệu sinh tồn đều được duy trì ở mức giá trị nhất định nhằm duy trì sự sống bình thường của con người. Nếu các giá trị này thay đổi, vượt ra khỏi ngưỡng bình thường sẽ làm cho các chức năng khác trong cơ thể người mất cân bằng và sinh bệnh, có thể dẫn đến tình trạng tử vong. Dấu hiệu sinh tồn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: tuổi, giới tính, thời tiết, môi trường, bệnh tật … Vì vậy, khi đánh giá dấu hiệu sinh tồn nhân viên y tế cần ghi nhận chính xác tất cả những giá trị thay đổi và các trạng thái có liên quan.
2. Các dấu hiệu sinh tồn cơ bản
2.1. Mạch (Nhịp tim)
a. Khái niệm về mạch và giá trị bình thường
Mạch là cảm giác nảy dưới tay, khi đặt ngón tay đồng thời ấn nhẹ trên đường đi của động mạch (mạch đập). Mạch đập không phải là do máu chảy tới nơi bắt mạch mà là do sóng rung động phát sinh ở động mạch chủ, tại thời điểm tim ở thì tâm thu. Sóng rung động càng lan xa thì càng yếu và đến đầu hệ mao mạch thì không còn. Do đó sẽ không thấy mạch đập khi bắt ở tĩnh mạch.
Tần số mạch: Bình thường tần số mạch tương đương với tần số co bóp của tim. Tần số mạch khác nhau giữa người này với người khác và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Tần số mạch bình thường: người lớn là 70 – 80 chu kỳ/phút; Trẻ sơ sinh là 120 – 140 chu kỳ/phút; trẻ 1 tuổi là 100 – 130 chu kỳ/phút; trẻ 5 – 6 tuổi là 90 – 100 chu kỳ/phút; 10 – 15 tuổi là 80 – 90 chu kỳ/phút; người trên 60 tuổi là 60 – 70 chu kỳ/phút.
b. Yếu tố ảnh hưởng đến mạch
– Trạng thái tâm lý, cảm xúc và hoạt động của cơ thể, khi xúc động, mạch thường tăng lên.
– Tuổi: tần số mạch giảm dần từ khi sinh đến lúc tuổi già.
– Giới tính: nữ mạch nhanh hơn nam (7 – 8 nhịp/1 phút).
– Vận động, luyện tập: khi vận động, luyện tập tần số mạch tăng lên vì tim phải co bóp nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu năng lượng tiêu hao.
– Ăn uống: sau khi ăn uống, tần số mạch tăng do quá trình chuyển hóa tăng.
– Thời gian: tần số mạch buổi chiều nhanh hơn buổi sáng.
– Thuốc: một số thuốc có thể làm tăng hoặc giảm tần số mạch như thuốc an thần làm giảm tần số mạch, thuốc atropin làm tăng tần số mạch.
c. Mạch bất thường
– Mạch nhanh: tần số mạch trên 90 chu kỳ/phút, gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh tim, bệnh Basedow, dùng một số loại thuốc.
– Mạch chậm: tần số mạch dưới 60 chu kỳ/phút, gặp trong bệnh tim, ngộ độc digitalin, vàng da ứ mật…
– Mạch không đều: gặp khi suy tim, …
d. Nguyên tắc đếm mạch
Dùng 2-3 ngón tay (ngón trỏ, giữa và áp út) để đếm mạch, không dùng ngón cái đếm mạch. Phải đếm mạch trọn trong 1 phút. Khi đếm mạch cần chú ý ghi nhận tần số, cường độ, nhịp điệu. Theo dõi mạch trước và sau khi dùng thuốc có ảnh hưởng đến tim mạch. Khi thấy mạch không đều hay bất thường nên đếm nhịp tim và so sánh nhất là người có bệnh lý tim mạch.
2.2. Nhiệt độ (thân nhiệt)
a. Khái niệm về thân nhiệt
Thân nhiệt là nhiệt độ của cơ thể. Thân nhiệt khác nhau tùy theo từng vùng của cơ thể. Các loại thân nhiệt:
– Thân nhiệt trung tâm: là nhiệt độ ở những vùng nằm sâu trong cơ thể, trực tiếp ảnh hưởng đến tốc độ các phản ứng sinh học xảy ra trong cơ thể, ít thay đổi theo nhiệt độ của môi trường. Thân nhiệt trung tâm thường được đo ở ba vị trí: (1) Ở trực tràng: hằng định nhất, trong điều kiện bình thường dao động trong khoảng 36,3 – 37,10C; (2) Ở miệng: thân nhiệt thấp hơn ở trực tràng 0,2 – 0,60C; (3) Ở nách: thấp hơn ở trực tràng 0,5 – 10C, dao động nhiều, thuận tiện để theo dõi thân nhiệt người bệnh.
– Thân nhiệt ngoại vi: là nhiệt độ ở da, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường, thân nhiệt ngoại vi cũng thay đổi theo vị trí đo. Ví dụ ở trán: trung bình là 33,50C; ở lòng bàn tay: 320C; ở mu bàn chân: 280C.
b. Những yếu tố ảnh hưởng đến thân nhiệt
– Tuổi: tuổi càng cao thì thân nhiệt càng giảm.
– Giới: nữ thân nhiệt tăng lên 0,3-0,50C trong giai đoạn giữa các chu kỳ kinh nguyệt, giai đoạn cuối thời kỳ thai nghén thân nhiệt có thể tăng 0,5-0,80C.
– Vận động cơ: tình trạng vận động các cơ càng lớn thân nhiệt càng tăng.
– Nhiệt độ môi trường: môi trường quá nóng hoặc quá lạnh cũng làm cho thân nhiệt tăng hoặc giảm.
– Trạng thái bệnh lý: đa số các bệnh nhiễm khuẩn thân nhiệt tăng lên (trong bệnh tả, bệnh viêm gan vi rút thân nhiệt có thể giảm ở giai đoạn cấp tính).
c. Rối loạn thân nhiệt
Là hậu quả của mất cân bằng giữa hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt, sự mất cân bằng này có thể gây ra hai trạng thái: giảm thân nhiệt và tăng thân nhiệt
– Giảm thân nhiệt: là tình trạng mất nhiều nhiệt của cơ thể gây rối loạn giữa thải nhiệt và sinh nhiệt làm cho thân nhiệt giảm xuống. Có ba trạng thái giảm thân nhiệt:
+ Giảm thân nhiệt sinh lý: gặp ở động vật ngủ đông.
+ Giảm thân nhiệt nhân tạo: chủ động giảm thân nhiệt.
+ Giảm thân nhiệt bệnh lý: do nhiệt độ của môi trường thấp hoặc do trạng thái bệnh lý của cơ thể. Trong lâm sàng, người bệnh có dấu hiệu giảm thân nhiệt khi nhiệt độ đo ở trực tràng dưới 360C.
– Tăng thân nhiệt là tình trạng cơ thể tích lũy nhiệt, hạn chế quá trình thải nhiệt vào môi trường hoặc do sinh nhiệt tăng, có khi phối hợp cả hai gồm:
+ Nhiễm nóng: là tình trạng tăng thân nhiệt do môi trường có nhiệt độ quá cao, gây hạn chế thải nhiệt; gặp trong say nắng, say nóng.
+ Sốt: là trạng thái tăng thân nhiệt do rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt, dưới tác dụng của các yếu tố có hại, thường là yếu tố nhiễm khuẩn; Trong lâm sàng, sốt là tình trạng nhiệt độ cơ thể của bệnh nhân tăng trên mức bình thường (trên 370C đo ở trực tràng). Sốt được chia làm 4 mức độ:
Sốt nhẹ: khi nhiệt độ của cơ thể từ 37 – 380C.
Sốt vừa: khi nhiệt độ của cơ thể từ >38 – 390C.
Sốt cao: khi nhiệt độ của cơ thể từ >39 – 400C.
Sốt quá cao: khi nhiệt độ của cơ thể trên 400C.
2.3. Huyết áp
Huyết áp (HA) động mạch là áp lực của máu trên thành động mạch, tạo thành bởi các yếu tố: (1) sức co bóp của tim; (2) lưu lượng máu trong động mạch và (3) sức cản ngoại vi.
a. Hai trị số huyết áp
– Huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa): là áp lực cao nhất của máu trong động mạch khi tim co bóp (tâm thu).
– Huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu): là áp lực thấp nhất của máu khi tim ở thì tâm trương.
– Đơn vị đo huyết áp là milimet thủy ngân (mmHg).
b. Chỉ số bình thường của huyết áp: đối với người lớn,
– Giới hạn bình thường của huyết áp tối đa: 90 – < 140 mmHg.
– Giới hạn bình thường của huyết áp tối thiểu: 60 – < 90 mmHg.
c. Yếu tố ảnh hưởng đến huyết áp:
– Tuổi: huyết áp có xu hướng tăng theo lứa tuổi, trẻ em thường có số đo huyết áp thấp, huyết áp tăng dần ở người lớn, huyết áp ở người già thường cao hơn người trẻ.
– Giới tính: ở cùng độ tuổi, nữ có huyết áp thấp hơn nam.
– Vận động, luyện tập: có thể làm tăng huyết áp tức thời.
– Khi tiếp xúc với nhân viên y tế, HA tâm thu của bệnh nhân có thể tăng thêm 20 – 30mmHg, HA tâm trương tăng thêm 5 – 10mmHg, được gọi là “tăng HA áo choàng trắng”.
– Xúc động: lo lắng, sợ hãi, phấn chấn cũng có thể làm tăng HA.
– Người béo phì huyết áp cao hơn người có tầm vóc trung bình.
– Môi trường: ồn ào, phòng đông người, chật chội có thể làm tăng HA tạm thời.
– Thuốc điều trị: Thuốc co mạch gây tăng HA, thuốc giãn mạch, thuốc ngủ, an thần gây hạ HA.
d. Những thay đổi bệnh lý của huyết áp
– Tăng huyết áp: Khi đo huyết áp theo cho người lớn, HA tâm thu ≥ 140mmHg hoặc HA tâm trương ≥ 90mmHg, được gọi là tăng HA.
– Tăng huyết áp khi HA trung bình ≥ 110mmHg, hoặc khi đo huyết áp liên tục trong 24 giờ ≥ 135/85mmHg. Khi HA tăng ≥ 220/120mmHg gọi là “cơn tăng HA kịch phát”.
– Giảm huyết áp: Khi đo huyết áp theo cho người lớn, HA tâm thu ≤ 90mmHg hoặc HA tâm trương ≤ 60mmHg, được gọi là hạ HA.
2.4. Nhịp thở
Nhịp thở (hay tần số hô hấp) là số lần thở (gồm hít vào và thở ra) trong mỗi phút. Nhịp thở bình thường: hô hấp êm dịu, đều đặn, người thở không có cảm giác và thực hiện qua mũi một cách từ từ.
Tần số thở của người lớn bình thường từ 16 – 20 lần/phút, nhịp đều, biên độ trung bình, thì hít vào cường độ hô hấp mạnh hơn nhưng thời gian ngắn hơn thì thở ra.
Ở trẻ em: tần số thở thay đổi theo lứa tuổi. Thời kỳ sơ sinh: 40 – 60 lần/phút; < 6 tháng: 35 – 40 lần/phút; 7 – 12 tháng: 30 – 35 lần/phút; 2 – 3 tuổi: 25 – 30 lần/phút; 4 – 6 tuổi: 20 – 25 lần/phút; 7 – 15 tuổi: 18 – 20 lần/phút.
a. Yếu tố ảnh hưởng tới nhịp thở:
Nhịp thở thay đổi nhưng cơ thể người vẫn hoàn toàn khỏe mạnh gọi là thay đổi nhịp thở sinh lý.
– Nhịp thở nhanh: nhịp thở nhanh và sâu hơn bình thường gặp trong các trường hợp: sau lao động, thể dục thể thao, trời nắng, oi bức, xúc động.
– Nhịp thở chậm: một số người nhờ có tập luyện thể dục thể thao, tập khí công cơ thể khỏe mạnh, nhịp thở chậm hơn người bình thường.
– Do chủ ý của bản thân: nhịp thở cũng có thể chậm lại hoặc nhanh lên.
b. Rối loạn nhịp thở
Trong đa số các trường hợp bệnh lý nhịp thở thay đổi cả về tần số, biên độ, gọi là khó thở. Động tác thở trở nên nặng nề, bệnh nhân khó chịu, phải chú ý để thở, đó là dấu hiệu khó thở. Các dấu hiệu có thể gặp: Khó thở nhanh; Khó thở chậm; Thở không đều.
c. Nguyên tắc khi theo dõi nhịp thở
– Không cho người bệnh biết khi đếm nhịp thở. Đối với trẻ nhỏ chỉ đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên, tốt nhất khi ngủ.
– Đếm nhịp thở cho trẻ trước khi theo dõi các dấu sinh hiệu khác.
– Đảm bảo người bệnh ở tư thế thoải mái, dễ chịu.
– Đếm nhịp thở trọn trong 1 phút. Chú ý cường độ, nhịp điệu khi người bệnh có rối loạn nhịp thở, bệnh lý tim mạch, hô hấp.
– Cần xem xét tiền sử, các yếu tố liên quan đến tình trạng người bệnh thở nhanh, chậm, thở không đều.
2.5. Độ bão hoà oxy máu (SpO2)
Oxy là một loại khí cần thiết cho sự sống, cần có đủ số lượng oxy trong cơ thể để các cơ quan hoạt động tối ưu. Độ bão hòa oxy là một giá trị cho phép đảm bảo các tế bào hồng cầu được nạp đủ nguyên tố khí này.
Độ bão hòa oxy tương ứng với mức oxy chứa trong hồng cầu sau khi chúng đi qua phổi. Hay đơn giản hơn, đây là chỉ số đại diện cho lượng huyết sắc tố oxy hóa trong máu giúp nhanh chóng đánh giá các chức năng hô hấp của bệnh nhân.
Nồng độ oxy trong máu bình thường đối với một người khỏe mạnh là từ 95% đến 100% tùy theo độ tuổi. Dưới 95% – bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng thiếu oxy trong máu. Nếu SpO2 có giá trị 90% đánh dấu tình trạng thiếu oxy trong máu tương đương với suy hô hấp.
SpO2 bình thường ở trẻ là trên 95%. Mức SpO2 dưới 94% ở trẻ là một chỉ số khẩn cấp và cần đến bệnh viện. Phép đo SpO2 rất quan trọng ở trẻ em, vì trẻ chỉ có biểu hiện tím tái (da hơi xanh) khi SpO2 dưới 75%.
3. Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn
Việc theo dõi thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn rất quan trọng, đặc biệt là tại các khoa Hồi sức cấp cứu. Giá trị các dấu hiệu sinh tồn giúp bác sĩ phát hiện sớm bất thường của cơ thể bệnh nhân để có phương án cấp cứu, điều trị kịp thời và hiệu quả.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















