BỆNH UNG THƯ THANH QUẢN
Ung thư thanh quản là một bệnh lý ác tính vùng hầu họng. Ung thư thanh quản chiếm khoảng 2% trong số các bệnh ung thư ở Việt Nam. Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới và thường bị nhầm với các bệnh khác ở giai đoạn đầu.
1. Khái niệm về bệnh ung thư thanh quản
Ung thư thanh quản là một bệnh ác tính mà các tế bào ung thư bắt nguồn từ tổ chức mô thanh quản. Ở Việt Nam, ung thư thanh quản chiếm 2% trong các số các bệnh ung thư. Bệnh ung thư thanh quản chủ yếu gặp ở nam giới, chiếm trên 90% số bệnh nhân trong đó những người ở độ tuổi 50 – 70 tuổi chiếm khoảng 72%, độ tuổi 40 – 50 chiếm khoảng 12%. Hiện nay độ tuổi mắc ung thư thanh quản ngày càng trẻ hóa và tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh ung thư thanh quản cũng đang tăng lên.
Trong số các bệnh về tai, mũi, họng thì ung thư thanh quản đứng thứ tư về tỷ lệ mắc bệnh, chỉ xếp sau ung thư vòm họng, xoang mũi và ung thư vùng hạ họng.

2. Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh ung thư thanh quản vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu. Các yếu tố tác động đến sự thay đổi của tế bào biểu mô thanh quản trong quá trình tăng sinh và phát triển đều có thể là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư này. Sự phân chia và tổng hợp bất thường của DNA trong một tế bào luôn là sự khởi đầu của một bệnh lý ác tính, nguy hiểm. Khi DNA biến đổi sẽ làm quá trình tăng trưởng của tế bào bị thay đổi, đa số các trường hợp tế bào sẽ phát triển không tuân theo quy luật chết theo chương trình của tế bào.
Các nguyên nhân làm DNA của tế bào biểu mô thanh quản thay đổi có thể gặp như hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, đã từng tia xạ vùng trước cổ, nhiễm khuẩn vùng răng miệng, tiếp xúc hoá chất thường xuyên như làm việc tại nơi có mỏ niken, amiang hay các nhà máy hóa chất. Một số nguyên nhân khác là thiếu các loại vitamine và khoáng chất, bệnh tai-mũi-họng kéo dài, mắc bệnh viêm thanh quản mạn tính, tình trạng u nhú, bạch sản, sừng hóa của dây thanh âm.
Nội dung
3. Triệu chứng của bệnh
Triệu chứng của bệnh ung thư thanh quản thường không đặc hiệu, trong giai đoạn đầu hay lẫn với triệu chứng của các bệnh lý khác vùng hầu, họng. Một số các triệu chứng thường gặp như sau:
3.1. Ho: ho là biểu biểu hiện của nhiều bệnh về đường hô hấp như: viêm họng, viêm thanh quản, viêm amidan,… nhưng cũng là dấu hiệu thường gặp khi mắc bệnh ung thư thanh quản. Khi mắc bệnh này, triệu chứng ho kín đáo hơn và mang tính chất kích thích, đôi khi gặp cơn ho kiểu co thắt. Ở giai đoạn muộn, người bệnh có thể thấy khó nuốt, sặc thức ăn, có hiện tượng xuất tiết vào đường thở gây nên những cơn ho sặc sụa.
3.2. Khàn tiếng: các bác sĩ cảnh báo nếu gặp hiện tượng khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần, đặc biệt những người ở độ tuổi trên 40 cần được xét nghiệm, thăm khám kịp thời. Đây là triệu chứng ung thư thanh quản sớm, thường gặp và đôi khi là duy nhất ở nhiều bệnh nhân.
3.3. Khó thở: biểu hiện khó thở có thể xuất hiện sớm hoặc cùng lúc với khàn tiếng. Khi kích thước khối u thanh quản càng tăng thì khẩu kính của thanh môn sẽ ngày càng hẹp. Lúc đầu triệu chứng khó thở chỉ xuất hiện khi gắng sức (lên cầu thang, mang vật nặng…), nhưng về sau khó thở biểu hiện rõ rệt và thường xuyên hơn.
3.4. Khó nuốt: triệu chứng khó nuốt thường xuất hiện sau triệu chứng khàn tiếng và khó thở, lúc này khối u thanh quản đã lan ra vùng hầu, họng kèm theo dấu hiệu đau tai. Bệnh nhân ở giai đoạn này không ăn cơm được, chỉ ăn cháo hoặc uống sữa, thậm chí phải đặt ống sonde dạ dày để bơm thức ăn.
3.5. Giảm cân: việc giảm cân nhanh, không rõ nguyên nhân kèm theo những triệu chứng như trên là bằng chứng rõ ràng của bệnh ung thư thanh quản. Do đó, cần lưu ý thăm khám kịp thời để chẩn đoán xác định và có phương án điều trị phù hợp.
4. Chẩn đoán bệnh
Việc chẩn đoán ung thư thanh quản dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng (xét nghiệm).
4.1. Về lâm sàng: thầy thuốc sẽ hỏi bệnh sử và khai thác các triệu chứng mà người bệnh đang gặp phải. Sau đó, các bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng và kiểm tra cổ họng của người bệnh. Bệnh nhân có thể được yêu cầu thực hiện một số xét nghiệm cần thiết để xác định chẩn đoán. Trong quá trình khám bệnh cần phân biệt ung thư thanh quản với lao thanh quản, cũng như các khối u lành tính khác của thanh quản như polyp, hạt xơ…
4.2. Về xét nghiệm: các nhóm xét nghiệm sau đây thường được sử dụng trong chẩn đoán ung thư thanh quản:
a. Nội soi thanh quản: Nội soi thanh quản thường là xét nghiệm được chỉ định đầu tiên nhằm giúp bác sĩ quan sát và kiểm tra thanh quản của người bệnh cụ thể, chi tiết hơn.
– Nội soi thanh quản gián tiếp: bác sĩ dùng một gương nhỏ có cán dài đặt ở cuống họng bệnh nhân để quan sát sơ bộ tổn thương.
– Nội soi thanh quản trực tiếp: bác sĩ dùng thiết bị soi bằng ống mềm, thông qua đường mũi hoặc bằng ống cứng qua đường miệng, quan sát thấy khối u ở dây thanh, khối u thường ở dạng u sùi, loét. Trong trường hợp khối u to, che lấp thanh môn, có thể cần phải can thiệp mở khí quản trước khi nội soi.
– Sinh thiết: Nếu xuất hiện dấu hiệu bất thường, bác sĩ có thể sinh thiết tổ chức khối u để xác định bản chất khối u và xác định chẩn đoán. Đây là cách duy nhất để khẳng định khối u lành tính hay ác tính.
b. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh:
– Chụp X-quang phổi hoặc chụp cắt lớp ngực: nhằm đánh giá ung thư di căn phổi.
– Chụp CT-scan và MRI có tiêm thuốc cản quang, cho phép đánh giá sự lan của khối u, đặc biệt ở các vị trí mép trước dây thanh, hạ thanh môn, các khoang của thanh quản như khoang giáp móng thanh thiệt, khoang cạnh thanh môn, hoặc sự lan của u đến hạ thanh môn, sụn giáp, sụn nhẫn. Bên cạnh đó, phương pháp này có thể giúp đánh giá tình trạng các nhóm hạch vùng cổ.
– Siêu âm vùng cổ: Giúp bác sĩ phát hiện các hạch cổ mà không khám được trên lâm sàng.
– Chụp PET/CT: nhằm phát hiện các ổ di căn, phân biệt tái phát với các tổn thương hoại tử sụn do tia hoặc các di chứng trong quá trình điều trị, hoặc phát hiện các ổ ung thư khác…
5. Các giai đoạn của ung thư thanh quản
Ung thư thanh quản thường được chia 5 giai đoạn như sau:
– Giai đoạn 0: Ở giai đoạn này thì các tế bào ung thư chỉ được tìm thấy tại thanh quản và chưa lây lan sang các bộ phận khác. Nếu phát hiện ở giai đoạn này bệnh có thể điều trị thành công, nếu không được phát hiện sớm và điều trị thì chúng sẽ phát triển thành ung thư và lan rộng sang các mô bình thường xung quanh.
– Giai đoạn 1: Lúc này khối u đã hình thành và cũng chỉ mới ở thanh quản chưa lây sang các cơ quan khác. Khối u ở vùng của thượng thanh môn, hoặc thanh môn, hạ thanh môn và dây thanh quản thường vẫn đi động bình thường.
– Giai đoạn 2: Khối u vẫn chỉ ở thanh quản nhưng đã có sự thay đổi ở các vị trí của khối u, lúc này dây thanh có thể không di động được nữa.
– Giai đoạn 3: Lúc này khối u đã lan rộng ngoài thanh quản, có 3 vị trí:
+ Thượng thanh môn: Ở giai đoạn này thì khối u ở thanh quản hoặc ở mô kế thanh quản, hai dây thanh di động không bình thường, khối u lúc này có thể lan vào hạch bạch huyết ở cùng bên cổ từ chỗ xuất phát u và hạch lớn hơn 3cm.
+ Thanh môn: Khối u chỉ ở thanh quản và hai dây thanh không di động bình thường. Khối u có thể lan vào hạch ở cùng bên cổ với khối u xuất phát và hạch có kích thước nhỏ hơn 3cm.
+ Hạ thanh môn: Lúc này khối u chỉ thấy ở thanh quản, 2 dây thanh không di động bình thường, khối u có thể lan sang hạch bạch huyết ở cùng bên cổ với chỗ phát khối u và hạch có kích thước nhỏ hơn 3cm.
– Giai đoạn 4: lúc này các khối u đã bắt đầu xâm lấn sang các cơ quan khác, xuất hiện hạch lan rộng và với kích thước to hơn.
6. Điều trị bệnh ung thư thanh quản
Phương pháp điều trị ung thư thanh quản sẽ được quyết định sau khi chẩn đoán chính xác giai đoạn mắc bệnh. Tùy vào giai đoạn, kích thước và vị trí phát triển của khối u mà thực hiện điều trị đặc hiệu. Các phương pháp điều trị gồm:
6.1. Xạ trị
Xạ trị là liệu pháp dùng tia X với năng lượng cao để phá hủy tiêu diệt tế bào ác tính của khối u. Tia X tấn công trực tiếp vào các tế bào ung thư và biểu mô xung quanh. Đây là phương pháp chữa bệnh tại chỗ và chỉ có công dụng đối với các tế bào trong phạm vi chiếu xạ. Mỗi đợt thực hiện xạ trị sẽ kéo dài trong vòng 5 ngày/tuần và thực hiện liên tiếp từ 5 – 8 tuần. Bệnh ung thư ở thanh quản có thể tiến hành chữa trị bằng phương pháp xạ trị đơn thuần hoặc phối hợp với hóa chất, và phẫu thuật.
– Xạ trị đơn thuần: thường áp dụng cho những khối tế bào ung thư có kích thước nhỏ và người bệnh không thể tiến hành phẫu thuật.
– Xạ trị phối hợp phẫu thuật: được áp dụng để loại bỏ các tế bào ung thư tái phát hoặc còn sót lại sau phẫu thuật, thu nhỏ khối u trước khi phẫu thuật.
– Xạ trị phối hợp hóa trị: Được sử dụng để điều trị trước hoặc trong hoặc sau khi tiến hành điều trị ung thư thanh quản bằng hóa chất.
Sau khi tia xạ, người bệnh cần được đặt ống thông dạ dày để nuôi dưỡng tạm thời.
6.2. Phẫu thuật
Đây là phương pháp loại bỏ khối u ở thanh quản. Phương thức phẫu thuật dựa vào vị trí và kích thước của khối tế bào u, thường được phân chia thành nhiều mức độ:
- Cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ thanh quản.
- Cắt dây thanh âm: một hoặc cả hai dây thanh âm.
- Cắt bỏ thanh quản phía trên dây thanh môn.
Trong quá trình phẫu thuật cũng thực hiện việc cắt bỏ những khối hạch và nạo vét hạch khi di căn đến vùng cổ. Khi phẫu thuật, các nhân viên y tế có thể tiến hành mở khí quản và thông qua lỗ mở này để lưu thông không khí. Việc mở khí quản chỉ mang tính tạm thời, sẽ được phục hồi cho tới khi bệnh nhân thực hiện phẫu thuật xong.
6.3. Hóa trị
Đây là phương thức dùng các loại thuốc để tiêu diệt các tế bào ác tính của khối u. Các nhân viên y tế có thể dùng một hoặc nhiều thuốc kết hợp với nhau, tùy vào phác đồ chữa bệnh. Các loại thuốc được kê đơn để chữa ung thư cho bệnh nhân thường dùng theo dạng tiêm tĩnh mạch. Có nhiều hình thức dùng hóa chất trong việc chữa bệnh ung thư ở thanh quản, gồm:
– Hóa trị trước xạ trị hay trước phẫu thuật.
– Hóa trị sau xạ trị hay sau phẫu thuật.
– Hóa trị cùng lúc với xạ trị để thay cho phẫu thuật.
7. Phòng bệnh
Hiện tại, ung thư thanh quản có thể phòng ngừa, giảm nguy cơ mắc bệnh bằng các biện pháp sau:
– Bỏ hút thuốc lá và không sử dụng các sản phẩm thuốc lá không khói khác.
– Hạn chế tối đa việc tiêu thụ rượu và các đồ uống có cồn. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nguy cơ phát triển ung thư thanh quản sẽ giảm đáng kể trong vòng 5 đến 10 năm khi không sử dụng rượu, bia.
– Sử dụng thiết bị an toàn khi thường xuyên phải tiếp xúc với amiăng hoặc các chất độc khác tại nơi làm việc.
– Xây dựng chế độ ăn uống lành mạnh, hợp lý. Nghiên cứu cho thấy một chế độ ăn uống có nhiều trái cây tươi và rau quả, đặc biệt là cà chua, trái cây họ cam quýt (như cam, bưởi và chanh), dầu ô liu, dầu cá… có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư thanh quản.
– Vận động thường xuyên, ít nhất 30 phút mỗi ngày và 5 lần/tuần.
– Kiểm tra sức khoẻ định kỳ, ít nhất 1 năm một lần.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















