Bệnh ung thư máu cấp tính
Ung thư máu là một nhóm bệnh ung thư ác tính của tế bào máu và cơ quan tạo máu. Những phương pháp điều trị mới như điều trị nhắm đích, ghép tế bào gốc tạo máu, liệu pháp miễn dịch đã mang lại nhiều hy vọng khỏi bệnh cho bệnh nhân ung thư máu.

1. Khái niệm về bệnh ung thư máu
Máu tuần hoàn chiếm 5-7% trọng lượng cơ thể, gồm hai thành phần chính là các tế bào máu và huyết tương. Các tế bào máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Mỗi loại tế bào máu đều có các chức năng riêng biệt. Các tế bào máu được sản sinh trong tuỷ xương. Sau khi biệt hoá và trưởng thành, các tế bào máu được đưa ra ngoại vi (máu tuần hoàn) để thực hiện các chức năng riêng biệt.
Ung thư máu là tình trạng các tế bào máu phát triển không bình thường, không tuân theo các quy luật điều hoà và phát triển thông thường của cơ thể. Nói đến ung thư máu thì thường được hiểu là sự tăng sinh không kiểm soát của tế bào bạch cầu. Ung thư máu thường được chia làm hai loại: cấp tính và mạn tính. Bài viết này chỉ tập trung vào bệnh lý của ung thư máu cấp tính.

Trong máu,bạch cầu là các tế bào có nhân, không màu có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật xâm nhập cơ thể. Bạch cầu thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể theo một trong hai cách:
– Tế bào thực bào: ăn các tổ chức bị bệnh hoặc các vật lạ. Các tế bào này có khả năng rời dòng máu để đi vào các tổ chức có nhu cầu với nó để thực hiện chức năng thực bào. Có hai loại tế bào thực bào là đại thực bào và tiểu thực bào.
– Tế bào miễn dịch: liên quan đến các phản ứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch trung gian tế bào.
2. Nguyên nhân gây bệnh
Cho đến nay, nguyên nhân gây bệnh ung thư máu vẫn chưa được biết tường tận. Một số yếu tố có liên quan mà các nhà khoa học y học nhắc đến nhiều nhất là:
- Tia xạ: liều cao của tia xạ có thể gây tổn thương di truyền. Những người dân ở khu vực có các vụ nổ hạt nhân có tỷ lệ ung thư máu cao hơn nơi khác.
- Hoá chất: việc tiếp xúc thường xuyên với các loại hoá chất như benzen, các tác nhân alkyl hoá có nguy cơ bị bệnh cao hơn không tiếp xúc.
- Vi rút: nhiễm các loại vi rút như HTLV 1 và 2…
- Yếu tố di truyền: ung thư máu có liên quan đến các gia đình có người mắc hội chứng Down (3 nhiễm sắc thể 21), hội chứng Bloom…
- Bất thường nhiễm sắc thể phổ biến.
3. Triệu chứng của bệnh
Các triệu chứng của bệnh ung thư máu thường khó phát hiện sớm nhưng cũng có một số biểu hiện cảnh báo mà người bệnh có thể nhận thấy được như sau:
– Xuất hiện những đốm đỏ trên da: Đây là hậu quả của việc giảm nhanh số lượng tiểu cầu.
– Nhức đầu dữ dội: Nguyên nhân bắt nguồn từ số lượng hồng cầu giảm, khiến cho không cung cấp đủ oxi lên não. Cơn đau đầu có thể còn kèm theo da xanh xao, đổ nhiều mồ hôi.
– Đau xương: Đâu là một trong những dấu hiệu chính của bệnh. Những cơn đau có thể nhẹ/nặng tùy vào mức độ và giai đoạn phát triển của bệnh. Cơn đau xuất hiện nhiều ở các vùng khớp đầu gối, đùi, cánh tay, lưng…
– Dưới da sưng, nổi các hạch bạch huyết nhưng không gây đau.
– Mệt mỏi và xanh xao: Sự thiếu hụt số lượng hồng cầu trong máu đột ngột, hay đơn giản hơn là thiếu máu sẽ khiến cho cơ thể người bệnh luôn xanh xao, mệt mỏi.
– Thường xuyên bị sốt cao: Ung thư máu làm cho hệ miễn dịch bị suy giảm. Bởi vậy những biểu hiện như nhiễm trùng và sốt có xảy ra rất thường xuyên.
– Liên tục chảy máu cam: Khi bị ung thư máu, số lượng tiểu cầu giảm nhanh làm giảm khả năng cầm máu. Bởi vậy, bệnh nhân dễ bị chảy máu cam.
– Đau bụng: Ở giai đoạn nghiêm trọng, gan và lá lách có thể sưng to lên, gây cảm giác đầy hơi, đau tức bụng, ăn không ngon, buồn nôn hoăc nôn mửa.
4. Chẩn đoán bệnh
4.1. Dựa vào triệu chứng lâm sàng
Trong bệnh bạch cầu cấp, nhiều triệu chứng xuất hiện không những do sản xuất không đủ các loại tế bào máu bình thường trong tủy, mà còn do các tế bào ung thư lan tràn khắp cơ thể. Các tế bào ung thư lấn át các tế bào máu bình thường. Triệu chứng do giảm các tế bào máu bình thường bao gồm:
a. Dễ bị nhiễm khuẩn
– Sốt là triệu chứng thường gặp. Đây là triệu chứng kết hợp với hiện tượng giảm số lượng bạch cầu ở máu ngoại vi.
– Có thể nhiễm trùng tại một cơ quan nào đó: Hô hấp, tiết niệu, ngoài da… Đôi khi không phát hiện được ổ nhiễm trùng nào.
– Nhiễm trùng đáp ứng kém với kháng sinh.
Chức năng của bạch cầu là bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm. Vì vậy khi số lượng bạch cầu bị giảm sút dẫn đến không đủ khả năng chống đỡ, hậu quả là bệnh nhân ung thư máu dễ bị nhiễm khuẩn.
b. Triệu chứng thiếu máu
Bệnh nhân bị thiếu máu không hồi phục với các đặc điểm:
– Thiếu máu nhanh chóng và nặng dần;
– Thiếu máu không tương xứng với mức độ xuất huyết;
– Bệnh nhân kém thích nghi với tình trạng thiếu máu do tính chất cấp tính của bệnh;
– Đáp ứng kém với truyền máu;
– Thiếu máu thường có các biểu hiện như: Hoa mắt chóng mặt, hồi hộp tim nhanh, ngất, da xanh, niêm mạc nhợt.
Đây là triệu chứng xuất hiện liên quan đến việc giảm số lượng hồng cầu. Do chức năng của hồng cầu là vận chuyển oxy tới toàn bộ cơ thể nên mọi sự thiếu hụt hồng cầu đều gây ra hậu quả thiếu oxy ở các cơ quan đích trong cơ thể, gây ra các triệu chứng như thở nhanh hoặc thở ngắn khi vận động, hoa mắt, mệt mỏi, nhợt nhạt.
c. Nguy cơ chảy máu
– Xuất huyết tự nhiên với đặc điểm của xuất huyết giảm tiểu cầu.
– Xuất huyết dưới da là tình trạng hay gặp nhất, đa hình thái, đa lứa tuổi.
– Xuất huyết niêm mạc: Chảy máu chân răng, chảy máu cam, nữ có thể xuất huyết từ niêm mạc tử cung: Rong kinh, rong huyết.
– Xuất huyết tạng: Có thể xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết đường tiết niệu, xuất huyết cơ tim, màng tim, xuất huyết não, màng não. Nếu có xuất huyết não thì nguy cơ tử vong rất cao, tiên lượng nặng.
Đây là triệu chứng liên quan đến tình trạng giảm số lượng tiểu cầu. Vì chức năng của tiểu cầu là cầm máu, nên mọi tình trạng thiếu hụt tiểu cầu đều làm tăng nguy cơ chảy máu ngay cả với chấn thương nhẹ, và kết quả là xuất huyết những chấm xuất huyết nhỏ, mảng bầm dưới da, chảy máu từ lợi hoặc từ mũi. Chảy máu nội tạng có thể gặp trong một số trường hợp nặng.
d. Hội chứng thâm nhiễm
– Gan, lách thường to mức độ ít, trung bình (3 – 4 cm dưới bờ sườn). Có trường hợp to hơn nhưng ít gặp.
– Hạch to nhiều vị trí: cổ, nách bẹn …
– Đau xương: do thâm nhiễm vào màng xương.
– Phì đại lợi.
– U hạt dưới da.
Phì đại cơ quan nội tạng và các cơ quan khác do xâm lấn tế bào ung thư vào các cơ quan như gan, lách, hạch. Trong một số trường hợp những tế bào này có thể xâm lấn hệ thần kinh trung ương có thể biểu hiện kích thích màng não gây nên triệu chứng đau đầu, nôn.
e. Hội chứng loét và hoại tử miệng, họng
Đáp ứng kém với kháng sinh.
f. Thể không điển hình
Thiếu các triệu chứng hoặc các triệu chứng không rõ ràng dễ bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm, hoặc có các triệu chứng hiếm gặp do thâm nhiễm của tế bào ác tính gây liệt 1/2 người, viêm khớp, to mào tinh hoàn, u xương, u dưới da…
4.2. Dựa vào các kết quả xét nghiệm
a. Xét nghiệm tế bào máu

Trong bệnh ung thư máu, các tế bào bất thường có thể quan sát được. Số lượng bạch cầu có thể tăng hoặc giảm, giảm số lượng tiểu cầu. Trong một số trường hợp, có thể quan sát được tế bào ung thư ở máu ngoại vi.
b. Xét nghiệm tủy- chọc hút tủy xương
Chọc hút tủy xương (Xét nghiệm tuỷ đồ) là việc lấy một số lượng nhỏ mô tủy dưới dạng dịch lỏng để xác định sự có mặt của các tế bào ung thư, là yếu tố quyết định để chẩn đoán ung thư máu (Bệnh bạch cầu cấp).
c. Phân tích huyết thanh và nước tiểu- xét nghiệm hóa sinh
Xét nghiệm này sẽ phân tích các thành phần máu và nước tiểu. Nồng độ acid uric trong huyết tương và trong nước tiểu, nồng độ LDH sẽ tăng trong bệnh ung thư máu.
d. Xét nghiệm phân loại tế bào- kháng nguyên bề mặt tế bào
Các kháng nguyên trên bề mặt màng tế bào thể hiện đặc trưng cho từng dòng tế bào.
e. Xét nghiệm tìm bất thường gen- tìm bất thường nhiễm sắc thể
Các bất thường gen và nhiễm sắc thể có thể được tìm thấy ở những tế bào bạch cầu ác tính.
Ung thư máu là bệnh vô cùng nguy hiểm vì thế bản thân chúng ta nên chủ động đi kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm và đi khám ngay khi thấy có các dấu hiệu nêu trên để giúp phát hiện sớm ung thư máu sớm, từ đó có biện pháp chữa trị kịp thời, hiệu quả.
5. Điều trị bệnh
Điều trị ung thư máu cấp tính cần được tiến hành tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Việc điều trị phụ thuộc vào tuổi tác, sức khỏe của người bệnh và loại ung thư máu cấp tính (dòng, thể). Bệnh nhân có thể được kết hợp điều trị nhiều phương pháp bao gồm: hóa trị liệu, thuốc miễn dịch điều trị ung thư, thuốc nhắm đích, xạ trị, ghép tế bào gốc và phối hợp với các điều trị hỗ trợ khác như gạn tách tế bào máu, truyền chế phẩm máu, điều trị nhiễm trùng, điều trị rối loạn đông máu… Bệnh nhân cũng có thể tham gia vào một số điều trị thử nghiệm lâm sàng với các thuốc mới (nếu có).
Ung thư máu cấp tính thường trải qua nhiều đợt điều trị bao gồm tấn công, củng cố và duy trì. Trong quá trình điều trị tại bệnh viện cũng như thời gian ở nhà, bệnh nhân cần được làm các xét nghiệm kiểm tra định kỳ, đảm bảo vệ sinh cá nhân sạch sẽ và dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Bệnh nhân cần thực hiện chế độ ăn chín uống sôi, đủ chất dinh dưỡng.
6. Phòng bệnh
Nguyên nhân của bệnh ung thư máu cấp tính vẫn chưa rõ ràng, nên không có cách nào để ngăn chặn triệt để bệnh phát sinh. Tuy nhiên, duy trì lối sống lành mạnh, tránh tiếp xúc với các dung môi, hóa chất và tránh tiếp xúc không cần thiết với tia xạ nói chung là cách thức tốt để phòng bệnh.
Nếu bạn nghĩ rằng mình có dấu hiệu của bệnh ung thư máu cấp tính, nhận thức được các yếu tố nguy cơ và triệu chứng của bệnh, khi đó việc đi khám làm xét nghiệm kiểm tra là rất quan trọng để được chẩn đoán xác định bệnh và điều trị sớm.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.213.968
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com









![[Dân Trí] – Napharco – nhà máy sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe đạt chuẩn GMP](https://napharco.com/wp-content/uploads/2022/08/Napharco-nha-may-san-xuat-thuc-pham-bao-ve-suc-khoe-dat-chuan-gmp-420x280.jpg)





