SỐT
Sốt là một triệu chứng của nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng. Sốt thực chất làm một phản ứng bảo vệ của cơ thể. Khi có hiểu biết đầy đủ về sốt giúp bạn xử trí đúng cách và chủ động khi bị sốt cao.
Nội dung
1. Khái niệm về sốt
Sốt là trạng thái cơ thể chủ động tăng thân nhiệt để bảo vệ cơ thể dưới tác động của các tác nhân gây sốt (chất gây sốt).
Trong y học, sốt là một triệu chứng rất phổ biến gặp ở nhiều bệnh khác nhau. Sốt có thể gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm vi rút, ung thư, hoại tử mô, bệnh hệ thống, bệnh chuyển hoá… Đặc điểm chung của sốt trong các bệnh này là tăng sản sinh nhiệt và hạn chế mất nhiệt.
2. Nguyên nhân sốt
Có hai nhóm chất gây nên hiện tượng sốt của cơ thể, đó là chất gây sốt ngoại sinh và chất gây sốt nội sinh.
2.1. Chất gây sốt ngoại sinh
Chất gây sốt ngoại sinh có nguồn gốc từ bên ngoài cơ thể (thường có nguồn gốc từ vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng…), các tác nhân này kích thích đại thực bào sinh ra các chất gây sốt nội sinh. Chất gây sốt ngoại sinh mạnh nhất phải kể đến các sản phẩm của vi khuẩn (nội độc tố, ngoại độc tố). Chúng gây sốt cao và kéo dài. Ngoài ra, các sản phẩm của vi rút, nấm, ký sinh trùng, tế bào u… cũng là những chất gây sốt ngoại sinh.
2.2. Chất gây sốt nội sinh
Chất gây sốt nội sinh thường được sinh ra trong cơ thể, có thể không liên quan đến chất gây sốt ngoại sinh. Thường gặp trong ung thư, tiêu huỷ mô, nhiễm xạ…Chất gây sốt nội sinh thường là các cytokine do bạch cầu sinh ra như IL-1, IL-6, TNF-α…
3. Các giai đoạn của quá trình sốt
Có thể chia quá trình sốt làm 3 giai đoạn như sau:
3.1. Giai đoạn tăng thân nhiệt (sốt tăng)
Trong giai đoạn này, quá trình sản sinh nhiệt lớn hơn quá trình thải nhiệt làm cho cơ thể mất cân bằng thân nhiệt. Khi thân nhiệt tăng, cơ thể có một số biểu hiện như sởn gai ốc (giữ nhiệt), tăng chuyển hoá và tăng chức năng hô hấp, tuần hoàn, tăng tiêu thụ oxy làm tăng sản sinh nhiệt. Đồng thời với việc tăng sản sinh nhiệt thì có quá trình giảm thải nhiệt như co mạch dưới da, cơ thể ớn lạnh, rét run, muốn đòi đắp chăn… Điều này làm cho thân nhiệt tăng rất nhanh, việc sử dụng thuốc hạ nhiệt ở giai đoạn này rất ít tác dụng.
3.2. Giai đoạn thân nhiệt ổn định cao (sốt đứng)
Ở giai đoạn này, mức độ sản sinh nhiệt đã chững lại, mức độ thải nhiệt bắt đầu tăng lên làm cho quá trình sản nhiệt cân bằng với thải nhiệt nhưng nhiệt độ cơ thể vẫn ở mức cao hơn bình thường. Thân nhiệt cơ thể trong giai đoạn này có thể ở các mức độ khác nhau: sốt nhẹ < 38oC; sốt vừa 38oC-39oC; sốt cao >39oC – 41oC. Thân nhiệt của cơ thể cũng có thể ở các trạng thái khác nhau: sốt liên tục, sốt ngắt quãng hoặc sốt dao động.
Biểu hiện của cơ thể ở giai đoạn này có thể: da từ tái trở nên đỏ, khô; mạch ngoại vi bắt đầu dãn (giúp thải nhiệt); hô hấp, tuần hoàn và sự hấp thu oxy bắt đầu giảm so với giai đoạn trước. Lúc này có thể dùng thuốc để hạ nhiệt cho cơ thể.
3.3. Giai đoạn thân nhiệt trở về bình thường (sốt lui)
Ở giai đoạn này, mức độ sản sinh nhiệt thấp hơn mức độ thải nhiệt nên nhiệt độ cơ thể dần trở về mức bình thường. Cơ thể có biểu hiện dãn mạch ngoại vi, vã mồ hôi, tăng tiết niệu… Giai đoạn này có thể xuất hiện một số biến chứng như tụt huyết áp, giảm nhiệt độ cơ thể quá mức khi gặp điều kiện thuận lợi như có gió lùa, nhiễm lạnh, tắm lạnh…

4. Những thay đổi cơ thể trong sốt
4.1. Thay đổi chuyển hoá
Trong trạng thái sốt, cơ thể tăng chuyển hoá để tạo năng lượng đáp ứng nhu cầu tăng sản sinh nhiệt và tăng chuyển hoá của cơ thể. Việc này làm cho dự trữ năng lượng của cơ thể dần hao hụt, lâu ngày sẽ bào mòn cơ thể, đặc biệt trong các trường hợp sốt kéo dài.
Ngoài thay đổi chuyển hoá năng lượng cơ thể còn xuất hiện việc thay đổi chuyển hoá glucid. Bằng chứng của việc thay đổi chuyển hoá glucid là hiện tượng tăng đường máu, có thể xuất hiện đường niệu. Cơ thể cũng xuất hiện hiện tượng rối loạn chuyển hoá lipid với biểu hiện tăng triglycerid trong máu khi cơ thể sốt cao kéo dài. Mặt khác cũng có hiện thượng rối loạn chuyển hoá protid, rối loạn chuyển hoá nước và điện giải.
4.2. Thay đổi chức năng
Trong sốt, do sự huy động một số tuyến nội tiết và tác động của độc tố vi khuẩn đã làm thay đổi chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể.
Chức năng đầu tiên thay đổi phải kể đến là chức năng thần kinh. Hiện tượng nguy hiểm của thay đổi chức năng thần kinh khi gặp sốt cao ở trẻ em là hiện thượng co giật, đặc biệt ở các trẻ sốt đến 39,5oC. Chức năng tiếp theo của cơ thể thay đổi khi sốt là chức năng tuần hoàn. Biểu hiện của thay đổi chức năng tuần hoàn là nhịp tim tăng và huyết áp tăng. Tuy nhiên khả năng bù trừ của hệ tim mạch rất tốt nên chỉ khi sốt cao, kéo dài mới có ảnh hưởng đến chức năng tuần hoàn.
Ngoài ra, các chức năng khác của cơ thể cũng có thay đổi như chức năng hô hấp, với biểu hiện thở nhanh giúp cơ thể tăng thu nhận oxy. Có thế gặp rối loạn chức năng tiêu hoá với biểu hiện giảm tiết dịch tiêu hoá, chán ăn, đầy bụng, táo bón… Thay đổi chức năng tiết niệu với biểu hiện tăng bài tiết nước tiểu. Thay đổi chức năng nội tiết với biểu hiện tăng thân nhiệt, rối loạn chuyển hoá…. Ngoài ra còn có hiện tượng tăng chức năng gan, tăng chức năng miễn dịch, tăng số lượng và chất lượng bạch cầu để loại trừ các yêu tố gây sốt.
5. Cách ứng xử với sốt
5.1. Ý nghĩa của sốt
Về bản chất, sốt là phản ứng bảo vệ cơ thể. Sốt hạn chế quá trình nhiễm khuẩn bằng cách tăng số lượng và chất lượng bạch cầu, tăng sản xuất kháng thể, tăng sản xuất bổ thể, tăng khả năng chống độc và khử độc của gan. Tuy vậy, sốt gây khó chịu cho cơ thể khi làm giảm dự trữ năng lượng, rối loạn chuyển hoá các cơ quan và nhiễm độc thần kinh, suy tim, co giật ở trẻ nhỏ.
5.2. Xử trí sốt
a. Cách xử trí khi người bệnh bị sốt
Khi người bệnh lên cơn sốt:
– Để người bệnh nằm ở nơi thông thoáng khí, không có gió lùa và hạn chế nhiều người vây quanh.
– Đo nhiệt độ: Có thể đặt nhiệt kế ở hố nách hoặc ở hậu môn của người bệnh. Nhiệt kế phải được giữ trong hố nách ít nhất 3 phút, cánh tay của người bệnh áp sát vào ngực.
– Nếu nhiệt độ cơ thể người bệnh <38,5oC: Người bệnh cần được cởi quần áo ấm, mặc thoáng mát, không đắp chăn. Đặc biệt, theo dõi nhiệt độ của người bệnh thường xuyên, cứ khoảng 1-2 giờ đo 1 lần.
Chườm để hạ sốt bằng cách: lau người, hoặc tắm cho người bệnh bằng nước ấm. Dùng khăn bông mềm, sạch, nhúng vào chậu nước ấm, vắt hơi ráo rồi lau lên khắp thân mình, nhất là các vị trí như nách, bẹn, chờ bốc hơi thì lau tiếp cho tới khi thân nhiệt hạ xuống dưới 38,5oC, mặc lại quần áo cho người bệnh. Cần phải theo dõi nếu thân nhiệt lại tăng thì lại chườm tiếp.
– Duy trì phản ứng sốt ở mức độ vừa phải để bảo vệ cơ thể. Không dùng các loại thuốc hạ nhiệt khi nhiệt độ cơ thể <38,5oC.
– Nếu thân nhiệt người bệnh từ 38,5oC trở lên: Cần uống thuốc hạ sốt paracetamol theo đúng liều lượng, cân nặng và khoảng cách giữ hai lần uống thuốc ghi trong hướng dẫn sử dụng. Nếu người bệnh buồn nôn không uống được thuốc thì có thể dùng viên đạn nhét hậu môn.
– Cho người bệnh uống nhiều nước, nếu ở trẻ còn bú thì cho bú nhiều hơn. Bù nước và điện giải cho bệnh nhân bằng Oresol theo đúng hướng dẫn sử dụng. Cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt là protein giúp cơ thể đảm bảo quá trình chuyển hoá và sinh năng lượng.
– Cho bệnh nhân ăn uống bình thường bằng các loại thức ăn lỏng, dễ tiêu như cháo, súp,… uống thêm các loại nước hoa quả như cam, chanh,…
b. Cần đưa người bệnh đến Bệnh viện khi
– Bệnh nhân sốt cao > 39oC không giảm được nhiệt độ khi điều trị bằng thuốc hạ sốt và các phương pháp vật lý phối hợp.
– Hoặc sốt rất cao >= 41oC.
– Ở trẻ em cần đặc biệt chú ý khi có các dấu hiệu bất thường như: bỏ bú, quấy khóc nhiều, không chơi, sốt li bì, co giật, mê sảng, thở nhanh, thở khó, tiêu chảy, phân có nhày máu….
– Bệnh nhân sốt cao trên 2 ngày, đã dùng các thuốc hạ nhiệt không đỡ.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com















