BỆNH SA TRỰC TRÀNG
Sa trực tràng là một bệnh lành tính của hệ tiêu hoá. Bệnh ít có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng nhưng làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc hiểu biết đúng sẽ giúp phòng bệnh hiệu quả.
Nội dung
1. Khái niệm về sa trực tràng
Sa trực tràng là tình trạng một phần của trực tràng bị sa xuống hoặc trượt ra khỏi hậu môn. Trực tràng là phần cuối cùng của ruột già và là nơi lưu trữ phân trước khi được thải ra ngoài.
Có ba loại sa trực tràng:
– Sa bên ngoài: Độ dày toàn bộ của thành trực tràng bị sa ra ngoài hậu môn. Đây là loại sa trực tràng phổ biến nhất.
– Sa niêm mạc: Một phần của niêm mạc trực tràng bị sa ra ngoài hậu môn.
– Sa bên trong: Trực tràng đã bắt đầu sa xuống nhưng vẫn chưa sa ra ngoài hậu môn.
Sa trực tràng có xu hướng trở nên dễ nhận thấy dần theo thời gian. Việc điều trị sa trực tràng sẽ phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác, tình trạng sức khỏe chung và nguyên nhân, mức độ sa, kết quả cận lâm sàng.

2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây sa trực tràng
Mặc dù chưa tìm ra nguyên nhân cụ thể dẫn đến sa trực tràng nhưng các bác sĩ cho rằng, phần lớn là do các yếu tố:
– Mang thai;
– Tiền sử tiêu chảy hoặc táo bón mạn tính;
– Tuổi già làm suy yếu cơ và dây chằng ở vùng trực tràng;
– Chấn thương trước đó ở vùng hậu môn hoặc hông;
– Tổn thương dây thần kinh ảnh hưởng đến khả năng thắt chặt và nới lỏng của cơ. Điều này có thể do mang thai, biến chứng sinh con qua đường âm đạo, tê liệt cơ vòng hậu môn hoặc chấn thương cột sống hoặc lưng; mắc các vấn đề thần kinh, chẳng hạn như bệnh tủy sống hoặc cắt đoạn tủy sống, thoát vị đĩa đệm,…
3. Biến chứng
Bệnh sa trực tràng lâu ngày không được điều trị có thể dẫn đến các biến chứng từ nhẹ đến nặng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh. Trong đó, phổ biến nhất là 3 biến chứng sau:
– Sa căng cơ: Một phần của trực tràng bị mắc kẹt và cắt nguồn cung cấp máu khiến mô bị chết sẽ dẫn đến biến chứng sa căng cơ. Biến chứng này có thể phát triển thành hoại thư khiến trực tràng chuyển sang màu đen và rụng đi. Đây là một biến chứng nghiêm trọng cần phải phẫu thuật nếu không sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.
– Hội chứng loét trực tràng đơn độc: Khi hiện tượng sa niêm mạc xảy ra, các vết loét có thể phát triển trên phần trực tràng bị thò ra ngoài. Biến chứng này cũng cần phải được phẫu thuật.
– Sa tái phát: Nhiều trường hợp bị sa trực tràng tái phát sau khi đã phẫu thuật.
– Hoại tử khối ruột sa.
4. Triệu chứng
Lúc đầu, người bệnh có thể chỉ nhận thấy một khối u hoặc mô sưng tấy sa ra khỏi hậu môn trong khi đi đại tiện và có thể dùng tay đẩy ngược vào bên trong. Tuy nhiên, theo thời gian, khối mô có thể bị sa ra bên ngoài hậu môn vĩnh viễn và không thể đẩy ngược vào bên trong.
Sa trực tràng lâu ngày sẽ diễn ra thường xuyên hơn khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc đứng lên. Đôi lúc, người bệnh có thể cảm thấy bị sa trực tràng giống như “ngồi trên một quả bóng” hoặc như đi đại tiện chưa hết phân.
Ngoài ra, sa trực tràng còn có thể có các triệu chứng khác như khó kiểm soát nhu động ruột, có máu đỏ tươi chảy ra từ trực tràng, cảm giác khó chịu và có thể bị táo bón.

5. Chẩn đoán
Về chẩn đoán sa trực tràng, bác sĩ sẽ xem xét bệnh sử và hỏi về các triệu chứng, sau đó tiến hành khám lâm sàng. Khi khám sức khỏe, bác sĩ sẽ đưa ngón tay đã được đeo găng tay và thoa chất bôi trơn vào trực tràng để kiểm tra. Bên cạnh đó, bác sĩ cũng có thể yêu cầu người bệnh ngồi vào bồn cầu để đi đại tiện. Điều này sẽ giúp bác sĩ có thể nhìn thấy khối sa.
Ngoài ra, người bệnh cũng có thể được yêu cầu làm một số xét nghiệm khác, nâng cao hơn để chẩn đoán sa trực tràng, các xét nghiệm bao gồm:
– Chụp X-quang: Hình chụp X-quang sẽ cho thấy trực tràng và ống hậu môn trong quá trình người bệnh đi đại tiện.
– Nội soi đại tràng: Một ống dài được đưa vào trực tràng với một camera nhỏ ở đầu để tìm kiếm bất kỳ vấn đề nào có thể gây ra sa.
– Siêu âm nội mạc: Một đầu dò được đưa vào hậu môn và trực tràng để kiểm tra các cơ và mô.
– Nội soi trực tràng sigma: Sử dụng một ống dài có camera ở đầu để đưa sâu vào ruột giúp tìm kiếm chứng viêm, sẹo hoặc khối u.
– MRI: Chụp hình ảnh kiểm tra tất cả các cơ quan trong vùng chậu của người bệnh.
– Đo áp lực hậu môn: Một ống mỏng được đưa vào trực tràng để kiểm tra sức mạnh của cơ.
– Đo điện cơ hậu môn: Phương pháp này giúp kiểm tra các tổn thương dây thần kinh có gây ra các vấn đề về cơ vòng hậu môn hay không.
– Kiểm tra độ trễ của động cơ đầu cuối dây thần kinh lưng: Phương pháp này giúp kiểm tra dây thần kinh lưng có vai trò trong việc kiểm soát nhu động ruột.
6. Điều trị
Sa trực tràng có thể được điều trị bằng một trong các phương pháp sau:
6.1. Điều trị bằng thuốc
Nếu tình trạng sa trực tràng nhẹ, người bệnh có thể điều trị bằng các loại thuốc làm mềm phân và bổ sung chất xơ theo chỉ định của bác sĩ. Các thuốc điều trị sa trực tràng sẽ làm mềm phân để giúp người bệnh đại tiện dễ dàng hơn. Tuy nhiên, điều trị bằng thuốc chỉ là giải pháp tạm thời, không chữa khỏi sa trực tràng nên các bác sĩ khuyên người bệnh nên phẫu thuật sa trực tràng càng sớm càng tốt.
6.2. Điều trị Vật lý trị liệu
Vật lý trị liệu nhằm làm săn chắc lại cơ hậu môn, cơ sàn chậu và phục hồi các cung phản xạ đại tiện. Người bệnh sẽ được kích điện trong lòng hậu môn phối hợp tập phản hồi sinh học, Kegel.
6.3. Điều trị bằng phẫu thuật
Phương pháp điều trị sa trực tràng phổ biến nhất là phẫu thuật để đưa trực tràng trở lại vị trí cũ. Người bệnh được chỉ định làm loại phẫu thuật nào sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như sức khỏe tổng thể, tuổi tác và mức độ nghiêm trọng của tình trạng sa trực tràng. Hiện có hai loại phẫu thuật phổ biến nhất thường được áp dụng cho người bệnh sa trực tràng bao gồm:
– Phẫu thuật bụng: Bác sĩ có thể phẫu thuật bằng phương pháp mổ truyền thống hoặc phẫu thuật nội soi treo trực tràng sa vào xương cột sống (xương thiêng).
– Phẫu thuật tầng sinh môn: Phẫu thuật Altemeier: cắt đoạn trực tràng qua ngõ hậu môn, nối trực tràng và ống hậu môn. Phẫu thuật tầng sinh môn nhằm tác động đến lớp niêm mạc bên trong của trực tràng hoặc phần trực tràng bị sa ra ngoài hậu môn để đưa chúng trở lại trạng thái ban đầu.
– Phẫu thuật Thiersch: Khâu và đặt quanh vòng ống hậu môn bằng 1 sợi silicon với mục đích làm chắc lại cơ vòng, thường áp dụng trong sa trực tràng do nhão cơ vòng.
– Tiêm tế bào gốc (Stem cell) vào cơ vòng nhão là hướng đi trong tương lai nhằm phục hồi lại cơ vòng nhão, là nguyên nhân sa trực tràng. Tế bào gốc là tế bào lấy từ tế bào trung mô của tủy xương hay tế bào cuống rốn, khi tiêm vào cơ vòng sẽ biệt hóa thành tế bào cơ vân của cơ thắt hậu môn.
7. Phòng bệnh
– Nên uống đủ nước (khoảng 400 ml lít nước/10kg cân nặng/ngày), không đợi đến những lúc khát mới uống nước.
– Bổ sung chất xơ trong khẩu phần ăn như: ngũ cốc, trái cây, rau xanh, nấm, cần tây…
– Chú ý trái cây nên ăn nguyên miếng, không nên chỉ uống nước sinh tố.
– Ưu tiên các loại thực phẩm có tác dụng nhuận tràng như: khoai, rau mùng tơi, rau dền, sữa chua, lô hội, hạt chia, dầu thực vật…
– Cần tập thói quen không rặn nhiều khi đi đại tiện.
– Khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh sớm.
Tác giả bài viết:
TS. Nguyễn Triệu Vân
Bác sĩ cao cấp, cố vấn chuyên môn của Napharco.
CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM NAPHARCO
Địa chỉ: Đường D1, Khu công nghiệp Yên Mỹ II, Thị trấn Yên Mỹ, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 02213.766.338
Hotline: 0916.953.559
Mail: napharcopharma.corp@gmail.com







![[Dân Trí] – Napharco – nhà máy sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe đạt chuẩn GMP](https://napharco.com/wp-content/uploads/2022/08/Napharco-nha-may-san-xuat-thuc-pham-bao-ve-suc-khoe-dat-chuan-gmp-750x500.jpg)







